Friday, May 1, 2015

Ngày đón bạn về


Rồi cũng có ngày anh trở lại quê ta
Sau hơn ba mươi năm xa nhà đi đánh giặc
Sông Hồng vẫn đỏ thắm phù sa
Mái đê còn xanh rờn sắc cỏ
Tóc mẹ bạc phơ vì mỏi mòn thương nhớ
Đôi mắt người vợ trẻ năm xưa cũng đã rạn chân chim
Chan hòa nước mắt
Đứa con ngày anh đi chưa kịp nhìn thấy mặt
Nay đã lớn khôn cứng cáp đón cha về


Làng cũ không còn lấm láp dưới chân đê
Thấp thỏm bao đêm lũ về nước xối
Cau đã thơm hương bao mùa trong làng mới
Tre đã đơm măng, ấm búi gọi chim về


Đồng đội xếp hàng đón Hiệp về quê
Chẳng thể ồn ào vô tư như thuở trước
Đứa thương tật đầy mình đứa phơ phơ tóc bạc
Hãy tha lỗi cho những thằng sống sót
Nào có dễ dàng cái cuộc mưu sinh


Ngoảnh lại nhìn dằng dặc cuộc trường chinh
Tiếng súng đã im rồi nhưng khổ đau chưa hết
Nước mắt khóc một thời li biệt
Chưa một ngày thôi rơi


Trở về rồi hãy vui nhé Hiệp ơi
Dẫu có muộn vẫn là may mắn
Mẹ còn kịp tay gầy vun nắm đất
May tấm áo cuối cùng cho bạn, bạn ơi


Biết bạn nằm đây hồn vẫn ở cuối trời
Thương bao đứa còn lang thang trên rừng thẳm
Nhìn sắc trời phương nam mỗi hoàng hôn đỏ thẫm
Sao khỏi quặn lòng nhớ màu đất Tây nguyên


Đêm nay bạn sẽ ngủ yên
Sóng sông Hồng hát bên thềm lời ru
Hỡi chàng thi sĩ lãng du
Tình sông nước nghĩa sông hồ trả xong
Thanh gươm gửi lại non sông
Về đây nghe hạt lúa đồng dâng hương
Câu thơ dang dở mái trường
Lại ngân nga với quê hương rộng dài
Công hầu khanh tướng mặc ai
Ta về mặc áo xứ Đoài ngàn năm


22/12/2014

Người Tiểu đoàn trưởng Đàm Vũ Hiệp


Hôm nay 22/12/ Liên miên những cuộc nhậu từ mấy ngày nay. Nhưng trong cuộc nhậu nào chúng tôi cũng nhắc về những bạn bè đã hi sinh. 
Trưa nay ngồi ở Vườn Treo Đội Cấn quanh mình toàn những sĩ quan cấp cao ai cũng nhắc tới Tiểu đoàn trưởng Đàm Vũ Hiệp của tôi. Tôi treo bài này để nhớ anh Hiệp nhớ những người đơn vị tôi không về .


Trưa 11/4/2014 Nghĩa trang Sa Thầy
Tôi với bạn tôi Khuất Duy Hoan đến bên ngôi mộ Đàm Vũ Hiệp. Tôi lặng người trước người tiểu đoàn trưởng của mình và biết rằng ngày mai là ngày giỗ lần thứ 42 của anh.
Về anh, trên LTN tôi đã từng viết, bởi anh là một Tiểu đoàn trưởng rất trẻ rất dũng cảm và hi sinh trên cao điểm 1015 ( đồi Charlie) ngày 12/4/1972.
Khi hi sinh anh Hiệp là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 8 Trung đoàn 64 trong trận diệt gọn tiểu đoàn dù 11 lữ dù 3 trong loạt trận mở đầu phá tan phòng tuyến tây sông Pô Ko trong Chiến dịch Tây nguyên mùa hè 72. Năm ấy anh 23 tuổi.
Nhập ngũ từ trường cấp ba Phúc Thọ Hà Tây tháng 3/1967. Một năm sau anh đã nổi tiếng trong chiến dịch Mậu Thân Quảng Trị. Năm 1971 Đàm Vũ Hiệp là một cán bộ đại đội suất sắc trong chiến dịch đường chín Nam Lào và được Đại tướng Võ Nguyên Giáp gọi lên hỏi chuyện khen ngợi. Anh Hiệp học giỏi và cũng rất tài văn thơ. Năm 1971 trong dịp Đại Tướng Võ nguyên Giáp vào Quảng bình thăm F320A anh viết bài thơ cái áo trấn thủ tặng Đại tướng và Đại tướng rất thích thú. Đại thắng trên đường 9 Sư đoàn được ra đứng chân ở Hà Tĩnh và tháng 12/ 71 lại hành quân vào Tây Nguyên.
Hiệp có một cô con gái mà chưa biết mặt. Là giọt máu duy nhất anh có được sau lần về phép tháng 9 năm 1971. Nay con gái và cả con rể anh cũng đã là thượng tá quân đội.Năm 2012 vợ chồng cô con gái đã vào Sa Thầy đưa hài cốt bố Hiệp về quê. Bạn thân của Hiệp là Khuất Quang Thụy cùng trường cấp 3, cùng nhập ngũ đã viết bài thơ thật là thiết tha cảm động Hôm nay xin chép lại bài thơ này :



Ngày đón bạn về



Rồi cũng có ngày anh trở lại quê ta
Sau hơn ba mươi năm xa nhà đi đánh giặc
Sông Hồng vẫn đỏ thắm phù sa 
Mái đê còn xanh rờn sắc cỏ
Tóc mẹ bạc phơ vì mỏi mòn thương nhớ
Đôi mắt người vợ trẻ năm xưa cũng đã rạn chân chim
Chan hòa nước mắt
Đứa con ngày anh đi chưa kịp nhìn thấy mặt 
Nay đã lớn khôn cứng cáp đón cha về



Làng cũ không còn lấm láp dưới chân đê
Thấp thỏm bao đêm lũ về nước xối
Cau đã thơm hương bao mùa trong làng mới
Tre đã đơm măng, ấm búi gọi chim về



Đồng đội xếp hàng đón Hiệp về quê
Chẳng thể ồn ào vô tư như thuở trước
Đứa thương tật đầy mình đứa phơ phơ tóc bạc
Hãy tha lỗi cho những thằng sống sót
Nào có dễ dàng cái cuộc mưu sinh



Ngoảnh lại nhìn dằng dặc cuộc trường chinh
Tiếng súng đã im rồi nhưng khổ đau chưa hết
Nước mắt khóc một thời li biệt 
Chưa một ngày thôi rơi



Trở về rồi hãy vui nhé Hiệp ơi
Dẫu có muộn vẫn là may mắn
Mẹ còn kịp tay gầy vun nắm đất
May tấm áo cuối cùng cho bạn, bạn ơi



Biết bạn nằm đây hồn vẫn ở cuối trời
Thương bao đứa còn lang thang trên rừng thẳm
Nhìn sắc trời phương nam mỗi hoàng hôn đỏ thẫm
Sao khỏi quặn lòng nhớ màu đất Tây nguyên



Đêm nay bạn sẽ ngủ yên 
Sóng sông Hồng hát bên thềm lời ru
Hỡi chàng thi sĩ lãng du
Tình sông nước nghĩa sông hồ trả xong
Thanh gươm gửi lại non sông
Về đây nghe hạt lúa đồng dâng hương
Câu thơ dang dở mái trường
Lại ngân nga với quê hương rộng dài
Công hầu khanh tướng mặc ai
Ta về mặc áo xứ Đoài ngàn năm



22/12/2014


Chúng con hát mãi tên người Thành Phố Hồ Chí Minh


Ăn sáng 30/4


Sáng nay ăn sáng vỉa hè
Vắng thế, phố phường sạch thế
Nắng cũng rờn rỡn lũ ve phun mưa rền rĩ
Chỉ mai là tháng 5 rồi



Ngoái lại ư ? một năm không chỉ có một tháng tư
Nhưng không có “một tháng tư” chắc gì cháu con đã vào ra                                                                         Sài gòn Hà Nội
Dễ như một lần đi bia hơi chiều tối
Dễ gì ư? chém gió kẻ ăn may.


Dễ gì ư ? những nói và làm
Mai hết tháng rồi nắng võ vàng mặt phố
Những khẩu hiệu lại trở thành quá cũ
Buồn mà chi ngày mới đến đây rồi


Trong những nhàu nhàu mặt anh mặt tôi
Vẫn gặp nhau ở quán bia có nhiều hoa loa kèn mồ hôi

                                                                         trắng mặt
Những tháng tư không nói cũng vẫn về
Tháng năm tháng mười rồi cũng qua đi


Tháng Tư của tôi là thế

30/4/2015


KÍ ỨC MIỀN TÂY


Ở cuối trời em làm sao thưa được với sông Hồng
Em mặc bà ba quấn khăn rằn hát cho mẹ nghe mười thương                                                                                      điệu lí
Giàn trầu cay ngước mùa dắt dâu đi xa mẹ
Về tới nhà chồng đâu chỉ có mười thương?

Câu vọng cổ buồn từ thủa người đi mở đất
Nước mắt xuống sề mằn mặn khúc ầu ...ơ
Thềm lục địa thấm mồ hôi sóng dan dan lá đước
Có miệt vườn ngan ngát tóc em tôi


Thương nhiều đến thế
Ơi nỗi lòng điệu lí
Chín đợi mười chờ khắc khảm tiếng chim quyên
Em đội tóc nắng trưa, qua cầu lắt lẻo
Cầu soi em nghiêng con cá cũng bồn chồn


Vun kí ức đốt lá vàng vườn mẹ
Áo thị thành sao khóc buổi về quê ?
Lãng đãng bùn níu chân con, em dùng dằng khói quê cay                                                                                      mắt trẻ
Qua cầu rồi ai bỗng gọi tên em


1/5/2015


QUEN


Đường sẽ quen
Nhà sẽ quen
Chật chội, mất điện, tắc đường cũng sẽ quen
Những đói no rồi sẽ quen
Những mỏi mệt cũng sẽ quen
Quen với những thú vui du hí
Quen cả với chém gió !
Quen với thời cơ chế thị trường


Quen với đêm thị thành
Quen quán rượu
Quen với người dưng
Quen cả với người xu nịnh mình và cả người ghét mình


Rồi có một ngày
Chợt nhận ra
Thị Thành nơi mình ở
Vẫn không quen gọi là quê


1/5/2015


Chuyện về những người chỉ huy đầu tiên

Đại đội trưởng của tôi người Cao Bằng, rất cá tính.
Ngày đầu tiên về đơn vị, đại đội tôi tập hợp ở sân kho hợp tác, cán bộ trực ban chỉnh đốn đội hình xong thì chạy ra đứng nghiêm, giơ tay chào:
- Báo cáo Đại đội trưởng! Đại đội có mặt đầy đủ, xin chỉ thị đồng chí!
Đại đội trưởng lừ lừ:
- Tủ cái gì mà tủ, tôi lếm nhanh tược có trăm hai. Lói dối thế thì ti chín tấu làm sao tược? (Đủ cái gì mà đủ, tôi đếm nhanh được có trăm hai. Nói dối thế thì đi chiến đấu làm sao được?)
Bị dội gáo nước lạnh, đồng chí trực ban chỉ biết ứ ứ mấy tiếng rồi im thít.
Một hôm chúng tôi tập luyện ngoài thao trường ở đầu dốc Vai, nơi có mấy cái nhà 2 tầng để học chiến đấu trong thành phố. Lính tập hợp thành vòng tròn, Đại đội trưởng hạ khoa mục. Người dân tộc vốn quen tư duy hình ảnh nên ông nói:
- Các tồng chí đừng có tởng, vào thành phố ló khó lắm chớ, chết nhơ chơi à. Xe cộ ló ti tối mắt à, dây địn ló nhiều như... (Các đồng chí đừng có tưởng, vào thành phố nó khó lắm chớ, chết như chơi à. Xe cộ nó đi tối mắt à, dây điện nó nhiều như…)
Nói đến đây, thấy cần phải có một hình ảnh để so sánh với cái sự nhiều của dây điện, nên ông ngó quanh. Chợt ông nhìn ra mấy bụi tre, mắt sáng lên:
- ... dây địn nhiều như lá tre à. (Dây điện nhiều như lá tre à).
Thế là cả đại đội cười phá lên. Tưởng đại trưởng cáu, nhưng không. Ông đỏ mặt lên rồi cũng… cười phá lên. Cười ngặt nghẽo…
Chuyện về Chính trị viên cũng vui không kém.
Trung úy Vũ Văn Mấu quê Phủ Lý, Hà Nam, năm ấy cũng đã 28 tuổi. Đã từng chiến đấu ở Lào nên ông rất hay kể chuyện về Lào. Và theo ông thì người Lào cũng giống như người Tày nên cứ ai người Tày ở đại đội là ông ấy yêu quí.
Ban đầu Chính trị viên rất thận trọng với đám lính “ngộ chữ” chúng tôi, nên buổi sinh hoạt nào ông cũng cầm chịch để nắm tư tưởng. Và chỉ một thời gian ngắn là ông đã nhìn ra lợi ích từ những chàng lính sinh viên hay chữ. Ông lệnh mỗi trung đội mỗi tháng ra một tờ báo tường. 4 trung đội 4 tờ, đẹp ơi là đẹp, đủ cả văn, thơ, nhạc, hoạ, chuyện tranh, truyện cười…, màu sắc xanh đỏ tím vàng, vui mắt lắm! Những số đầu Chính trị viên rất hài lòng với chất lượng bài vở. Nhưng mấy số sau, mỗi khi báo sắp lên khuôn ông hay ra lệnh bổ sung bài này bài nọ…
Một lần ông dò ra bài thơ Đào hầm của binh nhì Ma Văn Mát, một chiến sĩ người Tày mới được bổ sung về đại đội tôi. “Đào hầm mỗi ngày một lần/ đào hầm mệt lắm/ nhưng căm thù giặc sài lang/ mồ hôi ướt áo chẳng cần…” Ông cầm bài thơ ấy về đưa cho tôi, người làm tờ báo của trung đội 1, lệnh đăng ngay. Tới cuộc sinh hoạt đại đội sau đó, Chính trị viên gọi Ma Văn Mát lên. Ông bắt tay Mát rồi hỏi:
- Đồng chí đào hầm bằng gì?
Mát trả lời:
- Bằng cuốc chim! (Vì hắn được giao giữ chiếc cuốc chim).
Chính trị viên khen tốt lắm, thế chứ! Cuốc chim là vũ khí diệt Mỹ đấy. Cái cuốc chim của đồng chí không kém gì cái xẻng của đồng chí Giang. Đồng chí viết như thế là toát ra từ đáy lòng tinh thần căm thù giặc sâu sắc. Đồng chí phải báo tin về cho gia đình thành tích của mình và phải căm thù giặc hơn nữa, rồi động viên bố mẹ cũng căm thù giặc bằng cách trồng nhiều khoai sắn...
Tối hôm ấy tôi thấy Ma Văn Mát hí hoáy viết thư tới khuya lắm.
Chính trị viên Mấu chọn liên lạc riêng cho mình là binh nhì Lí Trọng Nghẻ. Nhưng ông cứ gọi nó là Nghé. Ông bảo gọi thế cho nó hiền lành gần gũi. Lí do ông chọn Nghẻ làm liên lạc vì nó là người dân tộc, hiền, khoẻ, thật thà. Nhưng Nghẻ có nhược điểm là nghiện thuốc lào hạng nặng. Từ ngày làm liên lạc, Nghẻ suốt ngày phải kè kè bên thủ trưởng nên thèm thuốc lắm. Một hôm, không kìm nổi cơn nghiền, Nghẻ nhào xuống bếp anh nuôi hút trộm một điếu thuốc lào to vật vã. Để bõ những ngày “đói thuốc”, Nghẻ hóp ngực rít, nuốt trọn khói vào phổi nên phê quá ngã ngửa vào bụi chuối. Đúng lúc ấy thì Chính trị Mấu đi xuống kiểm tra nhà bếp. Ông há hốc mồm nhìn chú liên lạc của mình đang nằm ngửa, mắt lờ đờ nhìn thủ trưởng một cách rất… hiền từ!
Chính trị viên đứng đợi mãi mà Nghẻ vẫn không dậy nổi. Nghẻ chỉ còn cách nằm im và… ứa nước mắt. Lính chứng kiến cảnh ấy thì lo cho Nghẻ quá. Quả này thì toi rồi Nghẻ ơi, mất chức liên lạc viên là cái chắc! Nhưng thật lạ, sau lần ấy Chính trị viên Mấu cho phép Nghẻ được hút thuốc lào tại C bộ, nhưng hạn chế mỗi ngày 4 lần chia đều ra hai buổi.
Sau lần ấy, chúng tôi kính nể Chính trị viên lắm. Cánh tân binh kính trọng Chính trị viên đã đành. Đến mấy cô ở tiểu đội nuôi quân vốn lợi thế là gái, quen “gần chùa gọi bụt bằng anh” cũng phải kính trọng tư cách của Chính trị viên.
Ngày chúng tôi đi B, cả Đại đội trưởng và Chính trị viên dẫn quân vào tận Trạm 5 Trường Sơn mới chia tay chúng tôi để quay ra Bắc. Giờ chia tay đúng vào đêm 30 Tết. Cả hai ông xuống từng võng ôm từng chiến sĩ của mình. Bốn tháng ở bên nhau với bao vất vả nhọc nhằn nhưng thấm đẫm yêu thương, giờ phải tiễn những người lính bước vào cuộc chiến đấu khốc liệt, những người chỉ huy đầu tiên của chúng tôi có một tâm trạng khó diễn đạt bằng lời. Trong đêm Trường Sơn, những giọt nước mắt của hai ông rớt xuống vai tôi nóng hổi...