Sunday, August 23, 2015

Phá Đình ( AN). Phần 1

An                             


Chương 1
 1

Nước lụt đã rút hết ra khỏi làng. Hơn một tháng ngâm phù sa đỏ ong ỏng, bây giờ làng mạc như ruộng mạ bị trâu xéo ngang xéo dọc. Vườn tược rau cỏ lá cây, khoai dáy thối khinh khỉnh. Nắng chói chang như mùa hè, nắng chát lên những trái bưởi xót lại trong vườn một miếng nâu đỏ như má gái quê bôi son Hàn quốc. Một thiếu nữ sắn quần vác cái cuốc lội lép nhép, má ưng ửng mà cặp chân mẫm mạp nước phù sa thấm lên bám vào lông tơ màu hồng mươn mướt. Cái bụng chân trông bân bẩn khiến nó càng sexy. An đấy! An đi làm cỏ sắn một mình .
Tháng tám âm lịch sắn đã xuống củ. Chả cần làm cỏ sắn nữa nhưng ở nhà buồn lắm. Ruộng thì vừa rút nước xong chưa làm được gì. Ngồi nhà mà thở dài nhìn làng quê tan hoang với thủy tặc ư? Chịu đói chịu buồn mãi sao. An nhủ, buồn không chết, đói mới chết. Thế thì phải đi vào nương sắn, cái nương sắn này là cứu tinh cả nhà năm nay. Phải giữ lấy nó và phải làm cho nó khác nương nhà người.
Nhưng mới sới vài nhát cỏ mồ hôi dìn dịn, má dìn dịn, nách cũng dìn dịn, cái cảm giác nhồn nhột trong lần áo ngực khiến An buông cuốc. Nắng chấp chóe trên tán lá cọ lẫn tiếng líu chíu đàn chim Hít đậu trên những buồng quả cọ còn non. Một mình giữa nương sắn vắng, An lật cán cuốc nằm xuống đất rồi ngồi lên. Lá sắn xòe như những bàn tay trên đầu, nắng loang lổ má, loang lổ mớ tóc dài của An. Nhìn xoáy vào bụi hoa mua trên đồi mà hình như An chả nhìn thấy gì. Thế là anh Thường đi đã một tháng. Từ cái đêm trăng trên đồi cọ nhìn ra đồng ngập mênh mông nước đến nay, An như mộng du. Đồi cọ đêm ấy như một ốc đảo không có người, chỉ có trăng tưới miên man trên cỏ và lá rừng. Anh Thường phanh áo của An dưới trăng ngậm hạt đậu trên ngực, khiến rừng cọ bỗng lặng ngắt và trăng thì chới với. Đêm ấy khuya, lắm sương ướt cả tóc cả lưng anh Thường. An xoa hai bàn tay trên lưng anh nhìn ông trăng bơi uể oải.  Chưa bao giờ An nhìn rõ chú Cuội đến thế.
Trưa nắng gắt, áo đẫm mồ hôi. An lùa tay vào ngực lau những giọt nước ấm rực trên bầu ngực của mình. Anh Thường ở đâu bây giờ nhỉ? Anh ấy chả giống mấy đứa trong đội thủy lợi tí nào … sao mà cái đêm hôm ấy gió mát mà mình đổ mồ hôi khiếp thế? Nằm ngửa nhìn trăng rồi nhắm mắt lại thấy những giọt mồ hôi bò trên ngực rân rân buồn. Năm ngoái gặp An, anh Thường chỉ cười hỏi em còn đi học không? Anh chả nói chuyện hay để ý đến An. Thấy anh học dưới Hà Nội về, toàn đi chơi với các anh chị sinh viên về nghỉ hè, An chả dám bắt chuyện.Chỉ đến cái hôm vỡ đê, lúc ấy anh Thường cũng đi đắp đê trong mấy ngày mưa tầm tã, anh nhìn An trầm mình dưới nước kéo những bó bổi chèn vào chỗ nứt trên đê. Lúc ấy chả còn ai nghĩ đến áo quần rách toác đến tóc tai bùn đất cứ lăn vào cứu đê. Thân hình An dính chặt vào bộ áo quần như đang sắp bung ra. Ngực An phập phồng hí hóp môi tái lại mà mắt rõ long lanh. An biết anh Thường nhìn mình đăm đắm.Đêm hôm đê vỡ rồi, ai cũng mệt bã bượi, anh dắt An đi tắt mấy quả đồi cọ về xóm.Qua rừng cọ lớn, anh kéo sát An vào, mùi mồ hôi và nước mưa của cả hai đứa nồng nồng. An nhớ cái mùi ấy thế.
Mấy tháng rồi chả thấy thư anh Thường về. Sau hè, bạn anh ấy cũng đi hết. An vẫn đi làm thủy lợi xã vì nghỉ học đã một năm rồi. Nhìn mấy đứa cùng xóm gạo đùm chai tương đi học cấp 3 cũng nao nao. Nhưng nỗi buồn chả được lâu. An chán học. Bạn bè cùng tuổi tóc loe hoe ngực kèm kẹp lép mà An thì má cứ ửng lên như quả hồng dấm sắp chín. Ngực căng thây lẩy như quả bưởi tháng 5. Mỗi lần ngó vào vại nước thấy cặp vú rung rinh. An thích ngắm mình. Chỉ một mình An mới thấy sướng. Hễ cứ sờ tay lên bầu vú là bao giờ An cũng nhớ anh Thường.
Hôm nọ anh Phiện ở Yên Bái về chửi lầm lầm. Mày không thấy bọn thanh niên nó viết bậy ngoài sân kho à? An bảo thây kệ chúng nó, toàn lũ nứng cổ họng ấy mà. Anh Phiên nó giật mình, em gái của mình nanh nọc thế sao? Phiên đã thoát li ra khỏi làng mấy năm nay từ lúc con An còn 10 tuổi nay nó mới 16, nó chả giống những đứa trẻ 16 ở làng, nó nhanh nhẹn nó duyên dáng và mạnh bạo. Phiên bần thần thương em vất vả mà cũng lo cho em …
Có một trưa, đào đất khai mương đồng Chùa ì ọp. Sợ nắng,sợ đỉa lại sợ tàu bay đến thả bom. Thế mà An chả nghĩ đến điều gì trong đầu, chỉ nghĩ đến anh Thường . Mồ hôi thấm đen trên tấm áo gụ chỉ chừa cái hình áo coocxê. Trai làng và cả những ông trung niên mặt đỏ lên dưới nắng. Lúc nghỉ giải lao họ chui vào gốc nhãn ria xóm hút thuốc lào còn An ngồi bên bờ ruộng thả chân xuống nước kì cọ thật chậm. An thích thế . Cứ nhìn từng sợi lông tơ ở bụng chân trắng hồng nổi lên mặt nước, cảm giác mơn man chạy trên ngực trên lưng. Lại có lúc An rất thích nghe giọt mồ hôi lăn rất nhẹ trên bầu ngực mình. Bỗng máy bay ù ù tới, nó bay vút qua nhào xuống cắt bom phía Yên Bái. Mấy ông thợ cày nhảy ùm xuống mương đồng Chùa nấp vào bờ cỏ, ti hí mắt thở hổn hển. Có người gọi :
-  Kìa con An, An ơi xuống đây.
An thây kệ. An ngó lên giời, lọp đọp mấy chấm trắng pháo cao xạ bắn lên. Bom nổ ùng ùng xa lắm. Trống báo yên, mấy ông đàn ông leo lên bờ.
-  Mày muốn chết hả An? nhỡ nó thả bom ga mình thì sao ?
An cười, nó thả thì chắc gì đã trúng. Mấy anh nông dân quần đùi ướt dườn dượt dính bết vào đùi, bùn và bèo tấm in hằn lên bộ súng đàn ông của họ. Nước rỏ tong tong từ cái gấu quần đùi nhếch nhềnh nhệch. An chợt nhớ đêm trăng trong đầm Cả với anh Thường .
Anh Thường học năm thứ hai đại học ngoại ngữ. Nhà anh ấy với nhà An cách nhau một xóm. Ông ngoại An ở gần ngay nhà anh ấy khiến anh biết An từ lúc còn thò lò mũi. Hè rồi anh về, lúc ấy chưa vỡ đê, gặp anh An hỏi như ngày còn bé :
-   Anh có truyện tranh cho em mượn đi. Anh Thường bảo lớn như cái bồ còn xem truyện tranh?
An đi bên anh cười khúc khích :
-   Em chỉ xem có hình thật thôi, chữ nghĩa em kém lắm. Kiểu như giáo cụ trực quan mà thày giáo vẫn dậy í mà.
 Anh Thường nhìn lên cặp má hồng dưới nắng đầy lông tơ của An lẩm bẩm, quái sao con gái ở làng da nó hồng kiểu gì ấy nhỉ? chả giống bọn sinh viên lớp mình cứ trắng xanh tai tái.
Anh bảo với An mùi của em chỉ có về quê mới thấy. An lạ quá hỏi lại. Mùi gì ? anh Thường cấu vào má  An nói mùi này, mùi khói bếp. Đêm ấy lần đầu tiên An thấy mùi con trai. An giữ đầu anh chặt trên ngực. Thấy rõ anh đang ngậm núm vú từ bên ngoài lần áo. Mãi về sau An cứ nhớ anh Thường bảo ngực mình có mùi khói bếp.Mùi khói bếp mà anh thích. An ngúc ngắc cái đầu chịu không thể hiểu anh.
Hôm anh Thường lên trường, An bơi thuyền đưa anh dọc đường tàu hỏa xuôi về ga dưới. Con đường sắt như con đê chắn sông Hồng khúc vỡ khúc lành. Cứ chỗ nào đường sắt bị vỡ, nước xoáy ào vào đồng, nay lại òa òa xoáy đổ ra sông. Bao nhiêu nhà cửa súc vật cây cối trôi đi phập phều, nước loang loang màu gạch cua đỏ nhòa nhoẹt. Thuyền lướt trên những ngọn chuối, những bãi mía, chỉ giơ tay là hái được những trái bưởi vàng, có nhà ai đang đun bếp trên một tấm ván kê trên nóc nhà . Những người ngồi trên mái nhà nhìn hai đứa bơi thuyền đi xuôi như những kẻ lưu lạc khốn khổ. Anh đi rồi, An bơi quay về nặng nề, phần vì ngược nước, phần vì sợ mất anh, nước mắt và mồ hôi cay trong mắt. Lúc có anh, An cứ cười hơ hớ, cứ nhơn nhơn thế mà bây giờ An thấy mình yếu đuối. Mệt quá, An kéo thuyền buộc vào một cành nhãn đầy những quả và kiến đen bu kín. Cành nhãn đen kịt những kiến những ong trú ngụ. An phập phồng, nỗi buồn thân gái của mình cũng mỏng manh như con kiến mùa lũ bất chợt. Thế mà hôm ấy An vẫn không biết là anh vội về trường để nhập ngũ.

Ở làng có mấy anh hay chơi với nhau An đều biết. Anh Ngũ học ở Bách Khoa nhà gần hơn nhưng anh ấy hiền quá, it nói quá. Mùa hè nào về anh ấy cũng thổi sáo ngoài đình. Nghe bâng khuâng, An nghe như gọi An vậy. Ấy thế mà gặp anh Ngũ, An cứ ngài ngại. Anh Ngũ cũng ngại. Chả hiểu ra làm sao? Sau hôm anh Thường đi, tình cờ An gặp anh Ngũ. Anh Ngũ hỏi :-
-  Sáng qua đưa Thường đi à? An vâng !
 Ngũ nói khẽ :
-Thường đi bộ đội đợt này đấy. Đi đông lắm, anh thì vẫn không thấy gọi .
An tủi thân lắm .Thường không hề nói với An rằng anh ấy đi bộ đội. Đêm cuối cùng gặp nhau anh Thường và An lại bơi thuyền vào đầm Cả. Anh ôm An và cứ lặng im. Bỗng nghe có tiếng bìm bịp kêu, anh Thường bảo đi đường mà gặp bìm bịp chạy qua là rủi lắm. An cười cấu vào bụng anh và bảo :
-Thế thì ngày nào em cũng rủi. Quê mình bìm bịp đi qua đường bình thản như gà, chỉ khi có người đến gần nó mới bay. Khiếp, đi làm cỏ sắn toàn nghe bíp bìm bịp. Khiếp khiềm khiệp.
Anh Thường cười buồn buồn. An lần tay trên ngực anh,cắn lên vai trần của anh. Anh bảo An, vị thành niên mà đáo để. An hỏi sao em lại là vị thành niên? Anh Thường bảo em chưa là người lớn. An bĩu môi, em lớn hơn khối chị ở làng. Đây anh xem An kéo tay anh, bàn tay anh đặt lên ngực An nóng như lửa…trăng nhợt nhạt trôi trên rừng cọ đêm thẫm khuya.

Nước rút rồi mà lúa vẫn chưa hở ra. Kiểu này thì đói lắm đây. An thấy Ngũ hiền, thấy anh thật dễ thương, dễ gần nhưng anh ấy không giống anh Thường. Đêm đêm thanh niên làng ra ngồi ngoài đình, xung quanh là nước trắng phật phờ chưa rút hết sau trận vỡ đê. Ngồi bên Ngũ, An thèm cái bạo liệt ở Thường. Mai là ngày 2/9. Năm nay vỡ đê lụt cả làng nên xóm này đến xóm kia toàn là chèo thuyền và đẩy mảng nứa. Người người áo quần ướt rồi lại khô nồng khú lên. Thế mà vẫn trống cà rình inh om vẫn tiếng loa phát thanh của xã trên ngọn cây nhãn, trên gò Cao. Loa đọc bài xã luận của báo Nhân Dân, đọc bài của huyện yêu cầu nhân dân phải tập trung khắc phục lũ lụt, động viên con em tòng quân. An nghe tin chiến thắng ở trong miền Nam rộn rực lại nôn nao nhớ Thường. Hôm ấy anh Ngũ cũng cứ ngồi im bên An, anh không thổi sáo nữa, đêm ở quê nước vàng ánh lên, đồng làng mùa lũ còn sáng hơn cả ánh trăng. An thấy trăng hôm ấy nhợt nhạt, còn anh Ngũ cũng nhợt nhạt như lùm chuối nổi lên ở bãi sân đình. Những tàu lá chuối láng phù sa như cái bánh tráng chưa kịp khô.  Anh Thường ở tận đâu đâu rồi? An lẩm bẩm.                                    
                                                        2

          Sớm bửng mù tinh làng xóm đã ra đồng. Sau lũ lụt tràn ruộng nào cũng cao lên khiến bờ ruộng thì thấp xuống, nhoe nhoét bùn phù sa. Thương cho con người một thì thương cho lũ trâu mười. Bùn thụt đến gần bụng, mũi cầy răng bừa cứ ăn miết xuống khiến con trâu nào cũng lặc lè lê chân không nổi. Ông Chủ nhiệm hợp tác xã thì đi hết tràn này sang tràn khác, thúc hối xã viên khẩn trương để cấy vớt. Biết là đã sang tháng 7 âm lịch, cấy lúa cũng chả ăn thua gì nhưng huyện bảo thế thì cứ phải làm. Không làm là chống nhà nước, là không vì miền nam ruột thịt. Vừa nâng cái bừa lên cho con trâu nó đỡ nặng, bà Hiếu vừa nói rõ là to :
- Bây giờ thà gơ khoai lang và trồng rau, trồng ngô ba tháng lấy cái ăn cho qua đận đói còn hơn lao vào cấy lúa, có mà cấy lấy rơm cho trâu.
Ông Túc đội trưởng đang bừa lối sau nói với lên:
- Rõ cái nhà bà này, không nghe quán triệt của huyện, tỉnh hay sao? Bằng mọi giá phải cấy. Phải có lúa, phải tập trung sức người, sức của cho miền Nam, bà không biết hay sao? Rõ là nhà bà không có ai đi bộ đội nên không thấy thương người
Bà Hiếu điên lên :
- Này tôi nói cho nhà ông biết, tôi không có con đi vào miền Nam nhưng con tôi cũng sản xuất thuốc tiêm cho bộ đội đấy nhá, còn hơn nhà ôngm con trai đại học chả chịu đi bộ đội. Ông xem đấy anh Thường nhà ông Vượng cũng bỏ cả đại học mà đi đấy, còn cái anh Ngũ nhà ông, tôi vẫn thấy thổi sáo ve ve ngoài đình đấy thôi. Còn ông bảo nhà tôi không nghe huyện, nghe tỉnh, tôi hỏi ông có ông tỉnh,  ông huyện nào đói không hử? Rõ là …là
Lúc ấy An đang vạ bờ ruộng quay sang nói rõ là to:
-  Bầm có thôi đi không? Việc thiên hạ đâu đến lượt bầm mà vỡ nồi nhà mình. Bà Hiếu im. Ông Túc giật mình, ra cái con bé này nó quá là đáo để. Con gái phải thế mới làm dâu trưởng được. Ông nhìn nó, nó phổng lên nhanh quá, nó đầy những là sức lực, con mắt nó, giọng nói nó có tướng làm thủ lĩnh. Rồi ông lại nghĩ tới thằng Ngũ hiền lành, yếm thế nhà mình. Trong thâm tâm, ông cũng như bà Hiếu nhưng vì ông là đảng viên, là đội trưởng nên nín nhịn.Những cán bộ gần ngồi bệt như ông nín nhịn quen rồi.

Con đường tàu hỏa Hà Nội- Lào Cai sẻ vào giữa làng Hạ thành một đường kính, ở tâm đường kính là giữa làng. Giữa làng thì đương nhiên có sự khác biệt ria làng rồi. Hàng bán nước mắm cá khô ở đó. Hàng lò rèn, hàng nhuộm, hàng cúp tóc cũng ở đó và có một cái điếm để các nhà chức trách tuần phòng trị an. Tựa vào quả đồi có trường tiểu học là một cây đa và bãi cỏ rõ thật mịn làm nơi mít tinh. An nhớ xa xưa lắm, có một cái sân khấu cột gỗ mái lá để diễn tuồng, diễn chèo, là nơi thanh niên tập múa son mì ngày mồng hai tháng chín, ngày rằm trung thu. Thời ấy mới hòa bình vài năm. Những người tản cư từ dưới xuôi lên chưa mấy ai về, làng An còn đông vui lắm.Ông thợ giày cặm cụi ngồi ở gốc vông sửa những đôi giầy Giôn, những đôi Bát kết. Ông thợ bạc có cái đèn xì, ngọn lửa bé xíu xanh lè, chuyên kéo những cái vòng trẻ con. Khoái nhất là ông kẹo kéo. An và đám bạn túm đen túm đỏ quanh ông nuốt nước bọt nghe ông rao : ké…éo đê    
Cái xóm giữa làng này được gọi là xóm Làng. Đứng đầu là ông trưởng xóm. Nay hòa bình rồi, trưởng xóm thường là có chân chi bộ. Rồi lên hợp tác xã người ta biến trưởng xóm thành đội trưởng. Vào hợp tác xã cũng vui nhưng không vui bằng tổ đổi công. Ngày ấy tổ đổi công không có cấp trên dưới chỉ túm nhau vào quanh một ông tổ trưởng đổi ngày, làm giúp luân phiên từng nhà nên vui lắm. Bao nhiêu chuyện vui buồn trong nhà nay mang cả ra tổ đổi công mà chia sẻ. Con người mới đi lên phới phới. Hồi ấy chả cứ gì quê An, đâu đâu cũng văn nghệ, đâu đâu cũng làm sạch xóm làng, diệt muỗi, diệt chuột ăn chín uống sôi. Lũ trẻ nhỏ cứ mỗi tuần vào chiều thứ 6 đi cổ động. Đi cổ động là xếp hàng, đội ngũ chỉnh tề. Trống cà rình đi trước, người chỉ huy cầm cái loa bằng ống sắt tây mà hô to những câu khẩu hiệu. An nhớ lắm và thích thú những câu hô khẩu hiệu của anh Thêm Quỳnh Toét mắt. Anh cầm cái a lô giọng sang sảng :
- Tích cực diệt muỗi diệt chuột là thiết thực bảo vệ cuộc sống của nhân dân !
Cả đoàn hơn trăm đứa trẻ hô to : Tích cực tích cực.Anh Thêm Quỳnh lại hô:
-Toàn dân Thi đua làm sạch xóm làng! Lũ trẻ lại hô theo : Thi đua thi đua! Kết thúc bao giờ cũng phải có câu kết :
- Hồ Chủ tịch muôn năm. Muôn năm muôn năm
Rồi là trống cà rình gõ dồn dập cuối lời hô. Cứ thế, đoàn cổ động đi quanh co hết xóm trong xóm ngoài. Vui đáo để. An đi cổ động nhìn lũ trẻ cởi truồng chưa đến tuổi được đi cổ động cũng vênh váo ra trò. Anh Thêm Quỳnh toét mắt ngày ấy là thần tượng của An rồi. Cứ nhớ lại cái alô bằng sắt tây là nhớ đến một thời xóm giữa làng An, lại thấy nhớ anh Thường.Ngày ấy anh Thường chả ngó đến lũ bé như An. Còn An cứ nhìn anh Thêm Quỳnh toét mắt mà ao ước lớn lên mình sẽ làm người thật là nổi tiếng.
Ông Túc đuổi con trâu ngang qua đình đúng lúc An đang lấy cái cuốc nạo nạo mấy dòng chữ viết bậy trên tường đình. Thật ra thì An cũng thinh thích mấy dòng chữ này nhưng vì đang là đoàn viên thanh niên nên phải gương mẫu mà phải xóa nó đi. Ông đội trưởng ngển lên hỏi :
- Cháu nạo cái chữ gì đi thế hử?
- Dạ đứa nào nó viết bậy
Ông Túc bảo An dừng lại rồi cố đọc những dòng chữ loe loét:
“ Nhà ông Vang có bụi tre to
Có cô Năng lớn chả cho lấy chồng
Ai ai đến hỏi cũng không
Có anh đóng cối đến bằng lòng ngay”
Ông Túc bật cười. Mẹ cha cái con nhà nào … mà nó viết cũng đúng. Cô Năng  đi theo tay đóng cối dạo về đâu dưới Nam Định rồi. An lững thững vác cuốc về theo sau ông Túc, vừa đi vừa nghĩ tới chị Năng. Chị Năng đẹp gái phổng phao má cứ đỏ như má gà mái đến kì chịu sống. Đi làm chị hát chèo nghe chua loét mà lại hay hát. Lũ thanh niên làng chê chị ngực nặng quá đi không nhanh. Chị chửi cho. Chị bảo tao thèm vào cái lũ chúng mày, đít phệt gio bếp. Tao á, tao phải lấy chồng nhiều tiền, phải có xe đạp, đồng hồ. Thế mà cái anh đóng cối đến ở xóm mình mới mươi ngày chả thấy xe đạp, đồng hồ đâu mà chị đã đi với nó. Ra là đóng cối cũng kiếm khá tiền thì phải. An mơ một ngày nào đó An sẽ làm ra nhiều tiền chả phải xin thằng nàotrông vào thằng nào sẽ khối thằng theo mình. Chợt An lại nghĩ, rồi nay mai anh Thường về, anh sẽ làm giáo viên đại học, An sẽ làm nhiều tiền cho anh thấy An giỏi.An nhìn hút ra ga tàu hỏa, tiếng còi tàu vọng qua đồng tu tu. Đến lối rẽ vào cổng, ông Túc ngoái lại :
-  Này chi đoàn thanh niên đã họp bàn về làm phân xanh bón ruộng chưa hả cháu?
-  Dạ nghe đâu tối nay họp bác ạ.
Nói rồi An chào ông Túc đi về còn nghe ông nói với theo:
-  Các cô các cậu là khẩn trương lên đấynhá.

                            3

Trong vòng năm năm mà làng Hạ chịu tới ba lần ngập lụt.Năm 66 vỡ đê toàn là phù sa ùa về. Năm 68 vỡ đê toàn là cát càng phủ kín ruộng đồng. Năm nay lại vỡ nữa, nước mênh mang cả một tháng trời, vườn khoai vườn rau thối nhung nhủng. Những rặng bưởi ổi ven đồi vàng ênh rồi rụng lá. Nước rút cạn ,đứng trong nhà nhìn ra đồng cứ như nồi canh cua, vang váng mỡ. Người người ngao ngán ngửa cổ nhìn giời lại lo nắng. Tháng tám âm lịch mà nắng như tháng sáu sờ vào những quả bưởi cành la bỏng như sờ vào tích nước chè. Nhà nhà đã ăn khoai nước. Ăn sắn non còn khoai sọ cố để tháng mười âm mới dỡ.
Bà Hiếu ngồi tước mớ ngó khoai nước để chiều lại nấu canh với quả dọc. Ngó khoai nước qua vụ lụt to mầm mẫm. Mấy hôm rồi chỉ có canh ngó khoai. Ngứa nhâm nhẩm trong họng. Bà Hiếu cứ khậm khoạc như muốn ho. Nhà có hai mẹ con, niêu cơm độn sắn và nồi canh đặt tròn trõn giữa mâm. Bữa cơm trưa, mồ hôi rỏ cả xuống bát, bà nhìn con gái má rừng rực đỏ loáng mồ hôi.
- Rau muống ở ruộng 5 phần trăm, con cắt hết đi lấy phân chuồng với gio bếp đổ xuống một lượt cho nó nẩy lên để lấy cái mà ăn.
- Vâng, con làm rồi mẹ không phải lo
Bà Hiếu lườm con gái.
-Tôi không nhắc, dễ chị biết đường mà làm,à mà ổ trứng mười hai quả sao còn có hai? Cô lấy bán đi à?
- Vâng con xin chục trứng mua áo.
Bà Hiếu vằng lên :
- Xin, nay xin mai xin lại cooc hả ? naycooc mai cooc. Bà nhìn vào bộ ngực thây lẩy của An ngưng giọng lại, nuốt đánh ực cục nước bọt đang ứ trên cổ. Hừ, bây giờ cứ cooc xê cooc sít, ra vẻ kín đáo giữ gìn mà quá là mời người ta xơi. Đàn bà con gái gì mà vú vê cứ vênh vênh lên,cooc xê nhọn hoắt cứ muốn chọc vào mắt ta, cứ chêu ngươi đàn ông.
An cười khinh khích. Không chêu thì ai nó lấy hả mẹ?Mà thời bây giờ nó khác thời ngày xưa. Không mặc thì đi cấy ruộng sâu cúi lên,cúi xuống nó cứ tì tõm ai mà chịu được. Bà Hiếu xùy xùy mấy con gà nhao vào tận mâm cơm, nguýt.
- Liệu đấy có thân thì giữ.

Nhìn đứa con gái đang kì phổng lên bà Hiếu lại nhớ ngày xưa bà cũng ở tuổi ấy bà làm lẽ ông lí Phi.Ông lí Phi hơn bà những hai chục tuổi, nhà giàu mà nghiêm khắc. Về làm dâu, bà hơn hớn thịt da, mặt mũi mà bị kìm hãm vì bà cả. Bà rừng rực, người như có lửa trong ngực, có lửa cháy lên tận cổ, bà xay lúa giật đứt cả giằng cối. Ông lí Phi phải làm cái nhà riêng cho mẹ con bà, bà mới chịu. Gần sáu mươi rồi thân hình sổn sề nhưng bà vẫn khỏe. Đám con chồng, lớn lên đi kháng, đi công tác thoát li hết, họ gọi bà là dì béo. Ông lí Phi từ chỗ làm phó lí, rồi làm kháng chiến, rồi làm phó bí thư chi bộ, chuyện hai vợ chả ảnh hưởng gì tới chi bộ. Tập trung cho kháng chiến, con người hóa ra gần nhau thân thiện với nhau hơn. Hòa bình vài năm ông nghỉ, ông nghỉ vì nhẽ hai vợ,  vì đã từng là phó lí. Hòa bình rồi bao nhiêu cái xấu, cái hủ hóa của con người được mang ra xem lại. Ông chả buồn làm mấy, người có chữ nho, có quốc ngữ từng chỉ huy cả du kích, dậy con đến nơi đến chốn ở làng này được mấy ai. Ông loanh quanh vườn sau, ao trước, thỉnh thoảng cầm cái quạt lá cọ chiều tối lên với bà. Bà âu yếm lắm với chồng, cút rượu con cá khô, đấu lạc lúc nào bà cũng để sẵn đợi ông lên.

Chập tối bà ngồi ngoài gốc mít dội nước ào ào bằng cái gáo ống tre nói với vào: 

- Mẹ quên mất. Con Năng nhà ông Vang nó về, nó nhắn mày sang nhà nó đấy.

Chập tối An sang nhà chị Năng, đứng ngoài ngõ gọi khe khẽ. Năng im thin thít đi ra, kéo tay An lên gò sơn. Năng trải cái áo mưa lên gò, hai chị em ngồi bên nhau nghe chó sủa ong óc dưới xóm nhà. An nghe mùi lá bưởi và bồ kết từ tóc Năng ngát sang cổ áo Năng vẫn ướt ngân ngấn có mồ hôi.
Năng kéo tay bảo An:
- Mày xem ngực chị có cứng không? An ngạc nhiên thấy bàn tay Năng kéo tay mình đặt lên bầu vú đã phanh trần từ lúc nào.
-  Eo ơi chị này.
-  Mày sờ xem nào, đấy nắn xem có cưng cứng không? An lần mần bóp lên ngực Năng, bầu vú ấm nóng như quả bưởi nướng có cục cưng cứng nơi đầu núm
-  Ờ ờ cứng, mà ti chị to khiếp lên được.
Năng bảo:
- Của quí nhất của chị em mình đấy mày ạ.Thằng đàn ông nào chả thích ngực to. Nhưng chúng nó sợ không cứng tức là nhẽo tức là bị nhiều người khác sờ mó. Đàn ông họ tinh lắm. Cẩn thận em ạ, họ mà chê thì tiếng lan ra ngoài khổ cho mình. Vừa nói chị Năng vừa mân mê đầu ti của An. Có dòng điện chạy giật lên gáy An ưỡn người lên:
- Khiếp nhà cái chị này. Năng cươi hí hí.Đời con gái ngắn lắm cô ơi, sáng nở tối tàn ấy mà chả ai thương mình cả đâu, mẹ già lại càng không thích nhìn con cái phởn phơ. Tự thương lấy mình thôi em nhá.
Lần đầu tiên An được nghe có người nói như vậy. An nể chị Năng quá. Chị mới đi có vài tháng mà khôn thế, chả trách các anh ấy đi học tận Hà Nội đã khôn lại khéo. An nhớ bàn tay Thường hôm nào trên ngực mình. Ngực An hôm ấy cũng cứng ngắc.
-  Chị gọi mày ra đây để nói với mày, ngày,mai chị về dưới xuôi ở với anh Ngoạn. Anh không đi đóng cối nữa đâu, anh đưa chị về mở hàng bán bánh rán cầu Vòi. Đừng hỏi chị, Cầu Vòi ở tận Nam Định cơ, nhớ nhé bao giờ xong xuôi chị gửi thư cho em. Tao nói nhỏ cho mày biết thôi, tao về quê anh ấy mới biết anh ấy dậy học cấp hai đấy.
- Ơ sao mà lại đi đóng cối?
- Anh ấy đang viết về phong tục tập quán dân miền sông Thao cho cái … công trình gì ấy nên mới đi đóng cối để vào trong dân mình cho dễ bề tìm hiểu.
- Chị không sợ họ nói chị theo trai à? An ngước lên nhìn Năng trong bóng loang lổ rừng sơn dưới trăng
- Đời con gái nào chả phải theo giai em ạ.Lấy chồng tức là theo giai đấy. Khi em lấy chồng là ngay tắp lự em mất tên mất quê. Mày chả biết gì. Thôi mà chị nói cho mà nghe, nhằm thằng nào nó có tiền hay là có khả năng làm ra tiền mà lấy em ạ. Mát mặt lúc nào hay lúc ấy, chứ ở quê mình cả đời theo đít trâu, cả đời ngâm chân xuống ruộng lầy, ăn măng ăn sắn rồi lại đẻ lũ con cũng lại đơm đo cua ốc. Ngừng một lát Năng nói khẽ vào tai An;
-  Mày là đứa phát dục sớm đấy, cẩn thận em ạ.Nhưng đánh thằng nào phải cho kì đổ nhé. Rồi chị Năng kéo An nằm ngửa ra, trời đầy những ngôi sao và ánh trăng lăn tăn trên lá rừng. Hơi thở chị Năng nóng thế, phả vào tai An. An bảo với chị Năng, khiếp! Đúng là một đàn bà bằng ba đống nhấm.

Chiều tối hôm sau, trong bữa cơm bà Hiếu bảo :
-  Cô Năng nhà ông Vang mang đồ đoàn đi ra tàu rồi.
An cắm cúi ăn không nói gì chỉ vâng với mẹ. Chị Năng đã hai mươi bốn tuổi lại xinh đẹp, An biết chị ấy không chịu lúi sùi ở mãi cái làng bán sơn địa này, ngước mắt lên thấy lá cọ, nhìn xuống thấy ruộng đầy săn sắt rô ron và đỉa , ngước đằng đông vướng gò,ngó đằng tây vướng sông. An thích con người chị Năng, cứ hừng hực yêu, cứ hừng hực sống mà lại rất khôn nữa là đằng khác. Thế mà người trong làng chả hiểu gì về chị, cứ bảo có hồi chị ấy đã là phó bí thư chi đoàn, chị ta phải sống gương mẫu. An đã từng nghe chị Năng bảo,gưỡng mẫu à? Ai sống thay đời của mình? Chã nhẽ chi đoàn hay chi bộ làm thay cái tên làm đàn bà, làm thay cái tên làm mẹ cho tao hay sao? Chi đoàn có làm chồngtao không? Nghe mà sợ, An chỉ thấy chị ấy đẹp, thấy thích chị ấy.
Cơm xong con gái đi họp chi đoàn, bà Hiếu một mìnhphẩy cái quạt lá cọ ra chum, cởi áo ngồi thụp xuống dội ào ào. Bà lấy cái cuống quạt kì kì sau lưng. Đã quá cả ngày, ngứa ngáy giờ mới phanh trần ra mà kì cọ.Bà nhớ ngày xưa cũng những đận mùa hè gặt hái lè phè rơm rạ mà ông lí Phi cứ chừng mười giờ đêm là ông lên nhà . Nửa đêm ông lại về đằng bà cả. Bà nằm một mình,trăng chui cả vào giường lõm bõm sáng, lõm bõm tối. Cái thời vừa mới hòa bình, bà mới thấy thêm khổ vì thân làm lẽ. Nếp sống mới là cái của nỡm gì mà làm bà khổ,bà chịu đựng, chuyện chồng vợ bà làm hại đến ai đâu mà bà phải khổ, bà thèm vào cái sự xấu hổ ở cái buổi sồn sồn. Ai cũng được dịp phê phán ông chồng bà đa thê. Đa thê thì hại đến xã, huyện à? Bà lẩn thẩn ngẫm ngợi bà chỉ thấy cái chịu đựng của người đàn bà là khổ. Bây giờt hì bà lại nghĩ cho con An, nay chi đoàn, mai xã đoàn, rồi có cái cọc nào mà neo lại đời con gái?  Bà chỉ mong nó yên hàn mà cũng đừng làm lẽ như bà mà thôi. Bà biết nó hồng nhan, nó còn đẹp hơn bà nhiều.

                                      4

Ở cuộc họp chi đoàn hôm ấy có cả ông đội trưởng và phó bí thư xã đoàn đến dự. Bí thư là anh Lại thọt chân. Anh Lại học hết lớp 7 thì nghỉ đi học chăn nuôi dưới huyện năm rưỡi, rồi về làng. Anh cũng xung phong đi bộ đội nhưng chả ai người ta cho đi. Họ bảo anh ấy làm ra vẻ đấy thôi chứ chân tươi, chân héo có mà đi làm của nợ cho bộ đội. Ở chỗ khám tuyển ra anh, thập thiễng chân, tay quyệt nước mắt. Anh buồn mất mất mấy ngày vì không được cho đi bộ đội. Ấy vậy anh vui ngay, Anh đi thiến lợn, thiến trâu cứ nhoay nhoáy. Trong xã ai cần thiến, anh đến ngay, chả phải mất tiền gì cả cứ bao thuốc Tam Đảo là xong. Anh Lại hay cười, vuốt mớ tóc gọng kính rồi rút điếu thuốc thơm phưng phức ngậm miệng. Anh không bao giờ châm thuốc ngay, cứ vừa ngậm thuốc vừa nói đến sốt ruột. Y hệt ông trưởng phòng nông nghiệp huyện mỗi lần về xã. Họ bảo ông trưởng phòng trên huyện là thần tượng của anh Lại.Nghe đâu ông trưởng phòng trên huyện cũng xuất thân thiến trâu thiến lợn .
Cuộc họp có hai vấn đề, một là phê phán chị Năng đi theo giai. Hai là tập trung chặt cây chó đẻ làm phân xanh. Nghe anh Lại nói chị Năng thế này thế kia, An thấy bứt rứt. An phát biểu, chị Năng đi lấy chồng đấy chứ, trai chưa vợ gái chưa chồng, có giấy xin đăng kí của địa phương anh Ngoạn hẳn hoi, mà anh Ngoạn đàng hoàng đến Ủy Ban Xã trình giấy tờ thưa bẩm rõ rệt đấy thôi. Chả nhẽ cứ phải lấy chồng ở quê mới khỏi tiếng theo giai à? Mọi người cười ồ. Anh Lại gắt :
- Nhưng đang lúc nước sôi lửa bỏng, chi đoàn đang nhiều việc bỏ đi lấy chồng là …là vô trách nhiệm. Mọi người cười ồ lên, to hơn. Có tiếng ai đó trong góc tối, chi đoàn có giải quyết được cơn ngứa không đới! Kháng chiến với Mỹ thì không được yêu không được đẻ nữa à…..à ha ha.

Ông Túc đội trưởng biết tay bí thư chi đoàn hay ngó vào ngực An thấy khó chịu. Trong tâm ông, ông muốn con bé này lấy thằng Ngũ con trai ông cơ. Vậy nên đứa nào thích cái An là ông không ưa. Ông cắt ngang ý kiến,ông nói về chuyện phải làm phân xanh, cải tạo ruộng đồng, ông tính đến chuyện khoán mỗi đoàn viên năm tạ phân xanh, ông gợi ý cánh đồng phân xanh chi đoàn. Rằng cánh đồng thanh niên chỉ dùng phân xanh do thanh niên làm nên phải do chính suy nghĩ và đầu óc họ, họ nghĩ sao họ làm như thế, không bắt ép. Ấy vậy ông lại nghĩ đến nghị quyết chi bộ có câu hướng dẫn theo sát việc làm cho chi đoàn thanh niên. Thanh niên họ bướng lắm, chứ đâu dễ bắt ép họ.
Họp chi đoàn xong ra về, An nghe anh Lại gọi chờ anh cùng về nhưng An cứ cun cút chạy. Vừa vào nhà bà Hiếu đã tru lên, bà kể lể đám dây khoai lang mới bằng cái chiếu đã bị đứa nào cắt trộm. An soi đèn ra vườn thấy nhựa khoai vẫn chảy. Sau lụt nhà ai cũng lo trồng khoai chống đói nên mới cơ sự này. An thấy buồn. Quê hương hiền lành thế nhưng cũng bé vanh vanh chả khá lên được. Trong đêm An mơ một ngày nào đó mình sẽ giàu có, sẽ đi ra khỏi làng. Đi khỏi cái xóm kin kít những tre hóp và đồng sâu ngăn cách những người ở xóm của An với xóm khác. An đặt cái đèn dầu xuống phản nói gọn chõn, người ta ăn cũng như nhà mình ăn. Bà Hiếu tru lên, ăn lẫn nhau à,  ăn thế mà đòi ăn sao, không giỏi ra mà ăn cắp của hợp tác xã kia kìa. Híc híc, bầm ơi ăn cắp của nhà khác mớ dây khoai thì chả tội gì chứ ăn cắp của hợp tác xã là tội lớn lắm đấy. Thôi quên đi bàm, con sẽ làm luống nữa cho nhà ta. Đúng lúc ấy ở ngọn cây nhãn trên đỉnh gò cọ lớn có tiếng loa
- Alô a lô. Thưa toàn thể đồng bào lắng nghe tin chiến thắng từ đường số chín Nam Lào. Thế là tiếng a lô lại đưa An nhớ đến anh Thường. An thấy nhấm nháy mồ hôi lăn trên ngực mình, thấy mình như lên cơn sốt. An chạy vào nhà lấy cái áo ra giếng kéo gầu nước lên tắm trần trong đêm.
Nước dội đến đâu người như dịu lại đến đấy. Ở làng nhà nào đàn bà chả tắm truồng vào đêm. Mà kì thật, cứ khi chủ nhà tắm là con chó ra ngồi bên bờ giếng canh chừng. Có hôm người nào đó đi ngòai ngõ thấy bóng nhấp nhóa trắng bên thành giếng, đứng lại nhòm là con chó sủa ngay. An cười, nghĩ bụng con vện nhà mình nó cũng biết là mình đẹp hay sao ấy nhỉ? Rồi vỗ vỗ lên thânmình, cô thấy người mình mát như cái chum nước lúc gần sáng.

(còn nữa)

VU LAN

Sắp đến rằm tháng 7 .


Vu lan đến vàng rơi trên nắng
Người đi về tìm lại cánh đồng xanh
Những mộ chí cũng vàng vào xanh thẳm
Mộ cha nằm trong sa sót thinh không


Mùa này hoa mẫu đơn đỏ lắm
Đốm lửa con đi tìm mẹ lưng đồi
cánh đồng xưa mẹ gập mình tần tảo
Vu lan nào có được lại mẹ tôi ?


Nước sông Thao mấy năm nay lại đỏ
Triền lau xưa cha tìm chỗ hạ thuyền
Đêm eo óc rơi giọt sao cá quẫy
Vỡ giấc mơ con đêm nước lên


Vu lan vàng nhức đường cao tốc
Những đứa con ngơ ngác cả tuổi già
Chiều nay ở vùng quê rất nắng
Trái bưởi nghèo rám má gọi ngày xưa


(nhớ mẹ cha quá . Trưa 23/8/15)

 

Tuesday, August 11, 2015

VỀ MIỀN TRUNG


Gọi Mạ ngày về miền Trung
Gọi Bọ ngày con đi thăm chiến trường cũ
Chỉ gọi em, em biền biệt ở nơi nào
Miền Trung ơi , khắc khoải mấy mươi năm 


Con đi những truông những hói
Những hoàng hôn lửa cháy ngã ba đường
Con ngủ trong nhà của mạ
Lăn lóc khoai và những quả cà xanh


Quê của Mạ, Bọ oằn lưng chống giặc
Vắt kiệt lòng làm nhút với mần tương
Quê của Bọ những là truông là rú
Mạ một đời chèo chống rạc áo tơi


Ơi miền Trung miền Trung của ta ơi
Của người Việt của châu Hoan châu Ái
Ơi những vũng bao đời trầm cổ tích
Dấu chân ngựa dừng ngơ ngác mắt Mị Châu


Cái đòn gánh gánh ngàn năm tiên tổ
Nghiến vào vai của bọ mạ quê mình
Hoa sim tím trên đèo ngang và cả lau trắng nữa
Bọ lẩy Kiều trong hầm rít bom rơi


Ơi miền Trung miền Trung mình ơi
Quê em đấy mồ hôi chưa bao giờ khô hẳn
Người thiên lý còn tôi về quê ngoại
Bọ Mạ tôi mồ nhỏ thó giữa đồng


Về quê em quê ngoại miền Trung
Uống nước giếng vườn chắt ra từ Hoành Sơn lầm lũi
Ơ ! Có ai hò giọng hò Nghệ Tĩnh
Người xứ ngoài bắt chước chẳng được đâu


12/8/2015

Sunday, August 9, 2015

DÒNG SUỐI MÀU NGŨ SẮC


Nàng sống với con gái. Người chồng khốn khổ yêu núi Mưa quê nàng bỏ đi rồi. Chuyện đời cứ như hoang đường, bao nhiêu huyền tích gắn với tình yêu, cứ rung lên khúc nhạc tình tính tang với nàng mỗi lần về quê. Thế thôi, cứ rủ rỉ, nhặt khoan, tang tính tình mà như sát muối vào lòng. Sát đến đâu, cõi lòng nàng tở lở ra như bọt, rồi nó bồng lên ngũ sắc, nó chất chồng tưởng không thể vỡ tung ra được. Nó cứ phồng lên dưới nắng cho dù lúc nàng nghĩ về kỉ niệm là ban đêm, kể cả trong giấc ngủ cái màu ngũ sắc ấy cũng rất rõ hiện ra trong bóng tối và sau đó là mưa. Mưa sối vào đống bọt màu ngũ sắc âm âm suốt với nàng ôm gối một mình.

Thủa bé nàng lon ton đi học ở làng. Làng nghèo bao nhiêu thì ngọn núi Mưa quê nàng huyền bí bấy nhiêu. Huyền bí đến nỗi quả sim, quả sung trên núi cũng có tên. Sim bà Mù. Sung ông Đội. Còn các con suối thì toàn mang tên con gái hoặc số phận người đàn bà. Suối Hĩm. Suối Chửa Buộm. Suối Mấn. Suối Nõn Nường. Nàng không thích đồi sim “Bà Mù” mà thích cái vạt rừng sung “Ông Đội”. Nàng cũng chỉ thích có mỗi một suối là suối Nõn Nường. Con suối này người quê nàng chỉ tắm truồng. Lớn bé già trẻ như nhau, khỏa thân vẫy vùng trong khúc suối ấy như không hề thế giới này có điều chi vướng bận. Ấy nhưng ngay từ bé nàng biết, tuyệt nhiên không có đàn ông được đến đó. Lời nguyền của núi Mưa, của hõm nước Bà Tiên truyền lại muôn đời.
Nàng ra học ngoài tỉnh rồi biệt ngoài Thủ đô những mấy ngàn ngày. Cứ kể cái độ nhớn theo chiều dài của tóc nàng, thì kể từ ngày xa núi Mưa tóc nàng đã dài ra hàng mét. Ấy là mẹ nàng bảo thế. Chứ nàng suốt đời tóc tém. Nàng bảo tóc này đỡ ướt. Ướt đầu buốt lắm. Mấy ngàn ngày nàng quên cả quả sung méo hay tròn. Chỉ nhớ hoa sim bằng bài thơ của ông nhà thơ già từ năm nảo năm nào. Có lúc nàng gân cổ cãi ông nhà thơ không biết cây sim to cao bao nhiêu. Nàng cũng không bao giờ ăn lại quả sung muối mà mẹ nàng vẫn cho chị em nàng chống đói những năm giặc giã mù trời. Chỉ nhớ mưa. Cứ mưa là nàng sách xe máy ra đường , đội mũ mà không mặc áo, nàng cố tình đằm mưa cho thịt da dính chặt vào lần vải. mưa càng to thì nàng càng thấy ấm nóng và các đường cong ngứa ran lên. Càng nóng ran, nàng càng đi dưới mưa. Lúc ấy núi Mưa hiện về thăm thẳm và những chồng bọt ngũ sắc lại bập bùng phía mặt hồ nước, nơi căn hộ nàng và con trai đang ở. Bọt ngũ sắc chất chồng miên man.

Một ngày nàng đưa bạn trai về quê. Anh con trai cũng là dân tỉnh lẻ ra Thủ đô. Yêu thì chả biết thế nào là may rủi. Yêu cũng không có nấc thang điểm mà đánh giá trước, rồi yêu sau. Anh đàn ông cũng rất đàn ông, tiếng là trai ở quê nhưng ga lăng không kém. Yêu nàng và nàng yêu lại. Nàng lúc ấy là cử nhân còn chàng trai là công nhân. Say sưa nhiệt huyết thì công với cử đâu nghĩa lí gì. Mỗi khi Nàng được người con trai ôm vào lòng vuốt ve hôn hít thì nàng lại bật nhớ đến khúc suối Nõn Nường. Cái khúc suối dây leo nhằng nhịt phủ kín làn nước trong tận đáy. Những lúc ấy, ước gì bạn trai nàng nhìn thấy nàng dưới suối và thấy những đường con của nàng được dòng suối làm căng lên làm mờ ảo và rung rinh lên. Nàng nhớ thủa mười ba, nàng đã nằm ngửa dưới làn nước nhìn vòm lá có con chim mỏ vàng nhỏ xíu nhìn nàng kêu chiêm chiếp. Bạn trai nàng ăn khỏe và kiệm lời. Ngôi nhà nhỏ lợp lá và cái bếp mồ hóng rủ nhưng nhức chẳng có gì làm ngạc nhiên đến chàng. Đận ấy nàng phải mang cả mì sợi, mì chính nước mắm từ Thủ Đô về. Nàng có cả bao thuốc More, điếu thuốc đen gầy như đầu đũa tre cho chàng. Chỉ có rau má luộc chấm mắm, bà dì mang sang cho bát sung muối và đĩa tép kho mặn. Ấy thế mà chưa bao giờ, sau cả ngàn ngày ở Thủ Đô, nàng mới thấy bữa cơm ngon đến thế. Bạn nàng ăn mà suýt soa còn nàng thì ngồi nhìn chàng nhai quả sung kêu rôm rốp. Nụ cười của nàng là sự hiến tặng cả vị ngon bổ rẻ cho người bạn trai đang thì trong căn nhà lá sệt mùi mồ hóng.
Nhá nhem tối nàng bảo chàng đi tắm. Cái giếng bé toen hoen kia ư? Không chàng yên tâm em đưa chàng đi tắm suối. Ây a! chàng trai kêu lên. Cả vòm trời bỗng sáng lung linh lên. Ấy là sau này chàng ta kể lại vậy! Chứ lúc ấy trời nhá nhem rồi, phía nhà bà dì đã thấy có tiếng quát lũ trẻ con rửa chân vào học bài. Tháng 5 rõ là ngày dài. Nàng bực mình sao mà đêm ở quê ngắn thế!
Đường vào núi Mưa không xa, hai người díu nhau đi về phía rừng. Không có bóng tiều phu nào, cũng không có tiếng chim muông nào bởi giờ ấy là giờ về tổ, lũ muông thú còn lo cho con cái chúng nó miếng ăn sau một ngày vật vã. Chỉ có nàng và chàng trai đi ngược về phía lạc thú. Nàng nghĩ rồi, sau những kiến thức ở trường và bao nhiêu trang sách nàng đã đọc. Chả có siêu nhân hay thần thánh gì cả chỉ có con người định ra cả đấy thôi. Thể chế hay cái gì gì nữa cũng là cái thằng người tự qui định cả. Nàng bật cười, xã hội càng văn minh con người lại càng tự sản xuất ra những thứ dây trói buộc vào mình. Sao họ không cứ cái anh bản năng mà sống, mà trị vì. Mọi ước lệ cuối cùng cũng chỉ để cho mình sung sướng đó mà thôi.
Chàng trai kia thì không biết chứ nàng thì nàng có chủ đích từ trước. Hôm nay, nàng sẽ đưa bạn mình vào suối Nõn Nường. Nàng sẽ tắm ở đó với bạn trai mình. Chỉ có nàng và bạn mình biết, thần thánh nào biết, dân làng nào hay vào lúc giáp hạt này. Và hôm ấy nàng đã hiến dâng cho anh con trai lực lưỡng ở dưới khúc suối có lời nguyền núi Mưa. Lời nguyền không một đàn ông nào được tới đây. Nếu người đàn bà nào nhìn thấy đàn ông khỏa thân ở đây sẽ gặp điều bất hạnh, sẽ gánh chịu nỗi buồn một đời tay trắng. Có con chim kêu ‘chót thì bóp” Nàng giật mình thấy buốt nhói nơi bụng. Dòng suối mát lạnh vừa lấy đi của nàng cái gì đó mơ hồ, nó khiến nàng hụt hẫng nhưng bỗng bung ra kiểu bung ra của tư tưởng cao siêu mà tự mình vừa chiếm lĩnh. Nàng và người bạn mình nằm trên tảng đá bỗng dòng suối bùng lên những đám bọt màu hồng dần rồi đỏ rồi dòng suối ào lên thành dòng sông màu ngũ sắc. Nàng ôm lấy người đàn ông, quằn quại muốn hét to vào đêm niềm hạnh phúc mang màu dòng suối thiêng. Người bạn trai mỉm cười hài lòng về dòng suối và cũng hài lòng về tiếng chim “ chót thì bóp” lạnh lung. Sự hài lòng được hiến dâng cũng là sau này nghe anh ta kể lại chứ còn nàng thì lúc ấy, nàng chỉ thấy mình đang bơi giữa một một dòng bọt bập bùng mầu sặc sỡ.
Làm gì có thần thánh nào. Nàng đồ rằng chắc cũng khối người đã từng dẫn trai vào tắm tiên trong suối thiêng ấy. Bằng chứng là nàng thụ thai và cưới anh bạn ấy sau vài tháng. Từ ngày ấy quê ngoại lùi thật xa, xa như những chuyện huyền thoại ngọn núi Mưa mà bao năm nay nàng không hề nhắc lại. Chả ai biết cái chuyện riêng của nàng. Chỉ một người biết đó là mẹ nàng. Bà buồn, bà chờ đợi cái ngày buồn đến với con mình.
Nàng vui hơ hớ khi có đứa con gái ra đời. Mỗi lần nựng con là nàng nghe thấy tiếng con chim kêu trong núi Mưa. Chót thì bóp. Nàng cười khẩy nàng bảo, con chim ấy nó kêu “ Nhất thì bét”, nó kêu đúng cái tư tưởng của nàng. Dám làm dám chịu, dám làm dám ăn. Có con , nàng thăng tiến vù vù. Thật đúng các cụ nói là thêm người thêm của. Với nàng, đứa con gái thụ thai ở suối Nõn Nường mang lại may mắn cho nàng. Con vài tuổi nàng thuê Ô sin, lên xe xuống ngựa công cán. Ngực nàng phồng , môi nàng thơm, mông eo nàng cong chỉ duy nhất nàng vẫn tóc tém. Cái mái tóc làm nàng trẻ như gái chưa chồng. Sự tự hào ấy nàng nhận thấy mỗi khi nàng đi làm chồng nàng đăm chiêu nhìn theo, nàng cười còn chàng héo. Người đàn ông nó hình như không hiểu gì về dưỡng sắc đàn bà hay sao ấy, chồng nàng đứng sau lưng nàng chau mặt mỗi khi nàng vẽ mắt tô môi. Nàng nhìn qua gương thấy khuôn mặt tồi tội của chồng mà bật cười. Có mỗi việc đi làm chiều về uống bia, tiền lương tôi không nhắc tới mà cũng không biết đằng sướng. Nàng không kịp chăm con gái của mình nữa, bao nhiêu việc giao cho Ô sin và anh chồng công nhân. Đi nước ngoài về, những là áo quần hàng hiệu nước hoa chồng nàng không bao giờ đụng vào. Nàng bảo anh cần gì cứ bảo tôi, không phải bóp mồm bóp miệng. Anh chồng bảo mang mấy ít đồ về núi Mưa cho nhà dì. Nàng kêu mắc đi dự án. Chồng bảo sang năm con vào cấp ba, nàng bảo chạy cho nó lớp chọn, tiền đây. Anh chồng nổ máy không ngoái lại, ngoài đường có cái xe ô tô trồi tới. Nàng lại đi họp và tiếp khách cấp trên. Từ ngày đi ô tô, nàng có thói quen nhìn người đi xe máy để đoán tuổi, đoán việc làm. Cái biển số xe cũng quan trọng phết. Giữa Thủ đô mà biển 36, 37, 38 là xem ra mấy anh khu trớ. Mấy cái biển từ 23 trở xuống là mấy anh mạn ngược. Đi dép mà cưỡi xe biển tỉnh lẻ chỉ là xe ôm . Cái xe Vespa biển Thủ Đô hai số 8 cuối, nàng để chồng đi lâu nay cứ nằm nguyên ở nhà. Rõ hãm, anh ta không hiểu nổi vợ mình.
Người không hiểu vợ mình thì là loại kém. Kém hơn cả mấy anh cùng cơ quan nhất là mấy anh trên Tổng xuống làm việc. Họ khen nàng uống rượu giỏi, khen nàng mặc đẹp, nàng biết chọn nước hoa và đặc biệt là nàng rất thích đi hát ka ra ô kê. Chỉ có mỗi bà Ô sin là hiểu nàng, bà Ô sin thương nàng. Bà Ô sin có lần nói với nàng như thế. Bà bảo nàng , cô ơi đàn ông họ coi thường đàn bà uống rượu lắm đấy, mặc dù ngoài lỗ mồm họ nói là mình giỏi cô ạ. Ôi dào bà thì biết cái gì. Nàng đi rồi, bà Ô sin thở dài. Bà nghĩ bụng, cô cũng đâu có hiểu nổi tôi. Tôi cũng đã một thời làm trưởng phòng rồi đấy, rồi cũng trắng tay rồi phải bỏ việc về Hà Nội làm Ô sin lấy tiền nuôi con học nốt Đại học. Nàng chỉ biết bà là ô sin, chồng nàng là công nhân , trong nhà này nàng là chính phủ.
Rồi cơ quan nàng bị thanh tra. Những ngày tiếp theo nàng vẫn đi ô tô nhưng nàng ít nhìn người đi đường. Bộ sậu yêu quí nàng cũng buồn như dưa. Nàng trở về nhà chạng vạng. Bà Ô sin bảo chú ấy đưa con đi rồi. Nàng giật mình, đi đâu? Chú ấy về núi Mưa. Trời ơi điên. Quê ngoại còn gì đâu mà về. Nàng bổ về quê ngay hôm sau. Con đường về núi Mưa sao xa thế. Nó thăm thẳm vời vợi . Mẹ mất , dì nàng cũng mất rồi khu mộ nằm tịnh yên nơi vạt sim “Bà Mù”. Người làng bảo nàng, chú ấy bạo gan quá dám vào suối Nõn Nường rồi đưa con đi rồi. Đã bao nhiêu năm nay nàng lại lội dọc bờ lau cao hút đầu người vào suối Nõn Nường. Lại vẫn cái tiếng chim "chót thì bóp" trên đầu. Nàng đến bên phiến đá bên bờ suối hôm nào, nơi mà nàng đã thấy buốt nhói nơi bụng vào một sẩm tối có tiếng chim buông chót thì bóp. Một nắm chân nhang đã tàn mùi nhang thơm phảng phất. Nàng nấc lên. Chồng nàng đã đến đây thắp hương.
Thần thánh chả bao giờ có ở trên đời. Nhưng mọi sự cũng chả có cái gì đáng là thần thánh. Sự nghiệp tiền tài không thể là thần thánh với tôi mà sao con người tôi lại yêu tôn thờ nó đén thế. Bỗng nàng nhớ một hôm nào đó lúc say rượu có một khuôn mặt nhòe nhoẹt nói vào mắt nàng rằng là đàn bà thì bớt cái sự nghiệp đi kẻo họa. Nàng biết đấy, nàng chưa kịp bớt đấy thôi. Chồng đâu , con tôi đâu. Nàng chạy quay trở ra. Cơn mưa ập xuống. Nàng cứ thế đi trong mưa, cơ thể nàng giãn ra, căng lên, nóng ran mùi đàn bà tuổi bốn mươi . Dọc con suối Nõn Nường, nước sôi bồng lên, nàng lại thấy dòng suối mầu ngũ sắc.

9/8/2015

 

Wednesday, August 5, 2015

Bác Buồn


Suốt mấy hôm rầy con buồn ghê
Bác đã xa từ ấy đến giờ
Con nghe rừng núi còn đau đáu
Mong Bác về thăm như ngày xưa


Bác bảo cháu con còn lạnh lắm
Ăn còn vắng thịt ngủ thiếu chăn
Thế mà các chú còn đắp tượng
Để Bác ra đi vẫn đau lòng


Đừng có di dân dựng tượng đài
Cố mà xây bệnh viện cháu ơi
Cố làm trường mới cầu qua suối
Thêm miếng thịt tươi cho cháu tôi


Sáng nay mưa vẫn đầm tây bắc
Sông suối sôi lũ vẫn dồn về
Bác đã xa rồi mà vẫn khóc
Con cũng buồn lòng dạ tái tê


6/8/2015

Saturday, August 1, 2015

NGƯỜI SỢ KIẾN

(Thân tặng bạn tôi Nguyễn Văn Lệ, sinh viên Toán SPVB, Thầy giáo cấp 3 Tuyên Quang (12/12/14)

Tôi đến cánh cổng nhà bạn tôi vẫn hé. Sân vắng teo. Mấy lồng chim treo trên cây lộc vừng vẫn choe chóe tiếng chào mào, tiếng chích chòe. Gọi không thấy ai thưa, tôi đẩy cửa vào. Cái vòi cao su nối dài tưới vườn nằm phệt giữa sân vẫn chảy nước re re. Bạn tôi ngồi bệt dưới lùm cây mẫu đơn hoa le lói đỏ, mắt nhìn trừng trừng vào bụi hoa. Tôi gọi:
- Này làm gì thế
Hắn ngước lên đờ đẫn rồi như giật mình:
- Tớ tưới cây… chao ôi kiến! sợ quá
Ha ha, thằng bạn vào sinh ra tử bao nhiêu lần với mấy tấm huân chương chiến công lại sợ kiến. Cái thằng bạn cùng quê những sắn cùng khoai, rau tập tàng bãi sông Lô, cả đời thân thuộc với chích chòe, kiến mối và giun dế lại sợ kiến.

- Này về già đổ đốn hay sao thế? Hay là làm quan chức lâu năm rồi bỗng sợ chính gốc gác bản thân mình thế hả ông bạn già? Bạn tôi phủi tay đứng dậy kéo cái dây ống nước khóa vòi lại rồi rón rén nhìn xuống xuống chân.
- Sao mà vườn nhà tớ hồi này nhiều kiến quá. Mai tớ sẽ phun thuốc. Phun cho nó chết, chết hết cái loại kiến hai gọng kìm quái ác này đi. Đúng là đồ…đồ …con kiến.
***
Vợ chồng bạn tôi cùng nghề, vợ về hưu năm trước, năm sau chồng cũng về. Một lần vào dịp 22/12 tụ họp đồng đội ở nhà Lộ, bạn bè mày tao rôm rả hồi ức tưng bừng. Cái lứa lính sinh viên nhập ngũ năm 1972 còn sót trở về tụ tập vẫn luôn mang vẻ lãng mạn chiến trường, khiến các bà vợ vui như tết. Thôi thì bao nhiêu tội của các dũng sĩ một thời, các bà mang ra làm đồ nhắm, khiến cuộc vui thêm cao trào. Bà Lan, vợ của Lộ, giáo viên sinh vật lại cùng ở tổ tự nhiên với chồng cười phơ phớ mỗi khi bạn bè nhắc đến chồng mình ôm cờ lao lên cửa mở. Tưởng nghề giáo mấy khi cọ sát nhau như ngạch kinh doanh thương trường, ấy thế mà cũng có lần cơm thiên hạ thủng nồi nhà mình. 

Chuyện kể của bà giáo Lan.
Trường THPT của hai vợ chồng có khoảnh đất làm vườn sinh vật cảnh giao cho tổ Tự nhiên lo thiết kế và xây dựng chăm sóc. Trường nào chả có một khu như thế, trường nào chả lo rèn rũa thể chất và sinh thái cho học trò. Bà Lan tối tối mở mạng xem thiết kế vườn cây, nghiên cứu cả phong thủy để đặt hòn non bộ và đặc biệt bà cho học sinh trồng nhiều loại cây thuốc nam trong vườn. Vườn sinh cảnh trở thành lá phổi của trường THPT, nằm giữa lòng thị xã. Ông Lộ gật gù, tốt. Bà Lan thấy chồng khen thì vui lắm. Vốn dĩ đàn bà càng nhiều tuổi càng thích khen giống hệt như trẻ nhỏ, bà lại càng bỏ công chăm sóc vườn sinh cảnh ngày càng tốt tươi, phong phú.
Để khắc phục hiện tượng khô hạn cằn cỗi cho cái vườn sinh cảnh này. Bà Lan có sáng kiến cho lấy đất phù sa bãi sông Lô về đổ vào vườn cây khiến cây cối rõ thật là xanh tươi. Nhưng từ khi đổ đất bãi sông vào thì vườn trường rất nhiều kiến. Cái loại kiến đen to hay sẻ rãnh ngoài bãi phù sa nhiều cây cỏ mật, khi bò cứ vênh vênh cái đít và lia lia cặp răng như gọng kìm nghênh nghênh leo chèo lên những cây hoa hướng dương, hoa hồng dây và trên những giàn thiên lí hay những lá cây Atisô mỡ màng. 
Ông Lộ là tổ trưởng tự nhiên gật gù nhìn thành quả của tổ viên mình ra chiều tự hào. Những lúc lên lớp xong ông chắp tay sau đít đứng ngoài nhìn vào gật gật cái đầu hói. Bà Lan ở trên lớp nhìn ra thấy chồng mình quanh quẩn ngoài vườn Sinh Cảnh cũng tủm tỉm cười. Bà cũng đang tự sướng. 
Năm sau ông Lộ lên làm hiệu trưởng. Ông chăm chú lo bao nhiêu là việc nhưng cũng rất quan tâm đến chuyên môn của vợ mình. Một ngày ông tổ chức tham quan giờ giảng dậy của môn sinh vật tại vườn trường. Trong khi thầy cô đang chăm chú nghe bà Lan giới thiệu về các loài hoa thường có ở trung du thì bất ngờ Hiệu trưởng Lộ lắp bắp, kiến kiến rồi ngồi bệt đít xuống đất. Tất cả thầy cô dự giờ hôm ấy bu lại quanh thầy hiệu trưởng nhìn ông mắt đờ dại nhìn tít đâu đâu. Bài giảng vẫn tiếp tục mà chả thấy ai hào hứng nữa khi hiệu trưởng Lộ đã rời khỏi khu vườn.
Cô giáo Lan giận lắm. Lấy nhau ba chục năm nay giờ bà mới biết chồng mình sợ kiến. Ừ sợ thì sợ, cũng giống như mấy cô giáo người Hà Nội lên vùng cao cô nào cũng sợ gián, sợ nhện. Các cô kêu the thé những khi có đông người chứ một mình cô thì chắc gì các cô đã sợ. Không sợ chuột, sợ gián sợ côn trùng, ai người ta tin cô là người Hà Nội. Đằng này ông lại sợ đúng vào lúc vợ ông đăng đàn. Mắt lại còn trắng dã, mồm lại lắp bắp, tay bắt chuồn chuồn… bà chỉ muốn chui xuống cái lỗ cống thoát nước ở góc vườn sinh cảnh, khỏi phải nhìn thấy cái bản mặt chồng mình lúc ấy.
Người ta gọi ông là Lộ Kiến từ ấy. Tất nhiên chưa bao giờ ông nghe thấy. Chỉ có bà Lan nghe thấy. Bà sôi máu, bà hứng chịu những nụ cười vừa hài hước vừa độ lượng nơi đồng nghiệp. Từ ấy cái vườn sinh cảnh thưa bước chân bà. Những cũng từ ấy cứ sau giờ làm việc, từ phòng hiệu trưởng ông Lộ lững thững xuống vườn trường. Ông đứng ngoài cái biển đề VƯỜN SINH CẢNH nhìn vào những lùm hoa những cây mẫu tươi xanh, mặt ông rười rười buồn.

Chúng tôi ngồi bên nhau. Ngoài vườn nắng treo lên ngang ngọn cây dâu da đất. Hai đứa tôi nghiện thuốc từ ngày ở chiến trường nhưng cứ phải ngó xem bà Lan ở đâu mới dám hút. Bà Lan xách cái làn đi chợ về toàn những là đậu phụ, mấy ngọn măng toàn những thứ người mỡ máu thích ưa thích. Bà Lan cũng ngồi xuống mấy cái đôn là những khúc gỗ cưa phẳng. Hai vợ chồng về hưu rồi ở với nhau cứ như đôi chim cu già. Con cái về thủ đô sinh sống cứ hai tháng mới về thăm bố mẹ. Còn bố mẹ thì hết băng tua lại cho dù cái băng cũ cót két lắm. Bạn già nhìn nhau cười với nhau theo kiểu thanh niên. 
Tôi ngó sang cô giáo Lan. Này ban nãy tôi vào nhà ông ấy đang sợ kiến đến nỗi tôi gọi không thưa. Bà Lan mặt bỗng thuỗn ra rồi nói:
-Anh à em cũng khổ về cái nỗi sợ kiến của anh ấy lắm. Sao mà anh ấy nớt thế!
Lộ bình thản đẩy chén nước sang cho tôi rồi nói.
-Hôm nay có ông là bạn lính đến tôi mới nói cho cả vợ tôi hiểu. Bao lâu nay tôi im tôi không hề nhắc lại câu chuyện ngày xưa về kiến. Bà nghe rồi hiểu cho chồng mình. Tôi chỉ kể lại với người từng chiến đấu với tôi mà thôi, tôi không tin là mọi người hiểu như bạn tôi đây.
*****
Lộ nhìn tôi:
-Ông nhớ ngày mình đánh Đồng Dù chứ?
-Nhớ nhớ lắm. 29/4/75.
Lộ tiếp, mười lăm lớp hàng rào dây thép gai mà giữa các lớp là những vạt cỏ tranh mìn gài dầy đặc. Ông biết cỏ tranh đất sốp thì có loại kiến gì chứ? Chúng tôi đào hầm ngay lớp ngoài cùng. Đào xuống đến đâu, kiến to như con mối chui ra hàng đàn. Rễ cỏ tranh trắng nõn mà cứng như gai bưởi lại thêm kiến. Vết xước chân của tôi ra tí máu mà kiến bu lại hàng chục con. Tôi vừa đào hầm vừa lấy lưỡi sẻng miết một cái lên bụng chân nghe kiến nổ lép bép. Mặc kệ, nó cứ leo lên vết máu của tôi. Loài kiến này thích máu ông ạ. Thằng Thèn người Mông vào trận lần đầu hỏi tôi: 
-Tiểu trưởng ơi, từ đây vào chỗ thằng địch bao nhiêu cây số nữa? Nghe nó nói Nữa thành Nứa mà buồn cười :
-Mày giết kiến ở chân hộ tao thì tao nói cho. Nói vậy thôi chứ tôi bảo, cứ yên tâm chạy một tí là vào đến chỗ địch tha hồ mà bắn.
Thằng Thèn mắt đăm đắm nhìn vào phía có những bóng đèn đỏ nhấp nháy trên ngọn tháp truyền tin. Nó lẩm bẩm, “đèn địn đẹp lắm lố.” Năm giờ sáng nổ súng. Bộc phá liên kết phát nổ làm tung 2 lớp hàng rào đầu tiên. Tôi lao lên đánh quả mìn DH10. Trung đội trưởng hô: mìn tăng đánh tiếp cho bộ binh lên. Thằng Thèn ôm quả mìn tăng lên. Thấy nó tái mặt nhìn tôi , tôi liền cắp AK vừa bắn vừa chạy bên cạnh nó. Tay nó khệ nệ ôm quả mìn,  miệng nó lắp bắp, tiểu trưởng ơi đừng bỏ em. Tôi quát đánh đi. Nó điểm hỏa rồi nhao về phía sau. Tôi lia AK về phía hỏa lực địch kiểu hú họa mắt nhìn thấy những luồng lửa DK, 12,7 li chát chúa về hướng lô cốt đầu cầu. Đạn nổ sầm sập tanh bành những bãi đất cỏ tranh dầy mìn. Thằng Thèn kêu:
-Tiểu trưởng ơi. Tôi mở mắt sau một quả pháo nổ gần thấy nó quẫy đạp trên cỏ, đầu nó có máu và bụng nó cũng có máu. Bộ binh lao lên nhảy vào hố mìn tăng, lại một quả mìn tăng nữa đánh lên hàng rào tiếp theo DK được điều lên bắn lô cốt đầu cầu. Đúng lúc ấy xe tăng địch bò ra cửa mở. Hỏa lực xe tăng địch ghìm đầu bộ binh ta khiến chúng tôi không ngóc lên được. Phía sau, xe tăng ta chồm lên qua cả những hàng rào đổ be bét. Tiếng nổ chát chúa như sét đánh. Xe tăng ta bốc cháy. Tôi bò lại ôm Thèn. Máu nó chảy tràn vào mắt, ,mắt nó nhìn lên giời. Tôi kêu lên : Giời ơi kiến, đ.m kiến. Loài kiến khốn nạn, loài kiến đáng ghét làm sao, chúng bò nhung nhúc cả trong lỗ tai thằng Thèn, nó ngoe nguẩy trong con mắt mở chừng chừng của bạn tôi, thằng em tôi nói tiếng kinh chưa sõi. Tôi nghe yếu ớt từ mồm Thèn:
-Tiểu trưởng ơi, kiến, kiến nó cắn em …
Tôi ngiến răng nhặt những con kiến trong mắt trong mũi trong lỗ tai thằng Thèn , tôi bóp vụn trong tay rít lên.
-Đồ khốn nạn.
Xe tăng ta lại chồm qua bộ binh, đằng sau là đại đội bạn đang lên , DK , 12,7, Cối 120 và pháo binh ta nã vào cửa mở. Tôi nghe đại trưởng quát :
-Đồng chí Lộ đâu? Cờ đâu? Tôi vuốt mặt thằng Thèn nhổm dậy, bàn tay sàn sạn những kiến. Nó trừng trừng nhìn tôi. Trong lỗ mắt nó đầy những kiến no nê máu.

Tôi lao lên cửa mở, lại những thi thể đồng đội vắt ngang trên đống rào gai bùng nhùng. Tôi cầm lá cờ rách bươm từ tay thằng Đông chết vỡ ngực vì đạn 12, 8 li qua được lô cốt đầu cầu đang phun khói đen và tiếng hét vì những thằng địch bị cháy trong lô cốt. Những đồng đội bị đạn vẫn chưa chết mắt nhìn theo chúng tôi cầu khẩn , chúng tôi vọt qua, mồm tôi đầy đất và nước mắt. Phía trước là xe tăng địch và bộ binh địch vừa rút chạy vừa la khóc…
Lửa, khói, nước mắt, máu, rên la, chửi bới …và tiếng hô xung phong mờ mịt, mụ mị một khoảng trời.
Sài Gòn sau những ngày đầu cờ đỏ. Một sáng tháng 5 tôi đi bộ từ căn cứ Đồng Dù 3 cây số ra cánh rừng cao su có hàng trăm ngôi mộ bạn bè tôi hi sinh vào ngày 29/4/75. Chưa nấm mộ nào có cỏ mọc lên. Những nấm mồ như cái nôi trẻ con úp ngược hiền lành trong không gian vắng lặng. Những tấm tôn đục lỗ gắn trên mộ chí mong manh sắc lẹm cứa vào thinh không Tôi đến ngồi bên mộ thằng Thèn. “Vừ Chin Thèn sinh năm 1954. Quê quán…”.Tôi gọi Thèn ơi, tiểu trưởng của em này. Anh về đây bắt kiến cho em này. Cũng đúng lúc ấy tôi nhìn thấy một đàn kiến đi hàng dọc chui xuống nấm mồ. Tôi chầm cả hai bàn tay bóp vụn nắm đất trên mồ Thèn. Bóp vụn những con kiến quái gở vừa bóp, tôi vừa gọi Thèn ơi