Sunday, October 18, 2015

Bài thơ 20 tháng 10 với Khâu Vai


Bài thơ này biết đến được em không?
Thơ phú có theo được em về bản
Giá một lần anh là người đàn ông say rượu
Khâu Vai ơi tình tìm đến vô cùng


Bóng em ngồi sườn núi đá chênh vênh
Chiều xuống tạc em vào hồn đá
Mắt người Mông mọng như hơi rượu thở
Sợi lanh se chặt núi chặt rừng

Ơi những con đường nhạc ngựa rung rung
Áo váy mù sương vẽ như mây cổ tích
Cổ tích ở những mảnh đời rất thực
Đá và hoa say nửa đất nửa trời

20 tháng 10 heo hút chốn xa xôi
Ai đến tặng hoa em ven đường Tam Giác mạch
Anh ao ước tình yêu rất thật 

20/10 ở chợ Khâu Vai

Thursday, October 15, 2015

LỜI TỪ XƯƠNG CỐT NHỮNG NGƯỜI ĐÃ HI SINH

Biết rằng : Ngày mai xử "Cậu Thủy "

Hãy để chúng tôi được yên
Xương cốt chỉ hiền như đất
Người đời ơi xin hãy đừng quăng quật
Tội ác nào thấu đến đất đen đây
Đừng mang xương chúng tôi chia nhỏ để đông đầy
Nghĩa trang nào cũng heo heo lời mẹ gọi
Sao nỡ mang trâu vào xếp hàng cùng đồng đội
Tội ác này sao lại của lương dân?

Đừng có ngăn chia chúng tôi âm với dương trần
Quả có báo không lúc này thì lúc khác
Chúng tôi vẫn chia nhau từng khói thuốc
Gửi nén hương chìm sóng tận Trường Sa
Gửi lên biên giới nhạt nhòa
Sương trắng cả vùng biên cương phía bắc
Còn nhiều nữa cốt nhục tan vào đất
Cũng là con của mẹ thôi
Thăm thẳm trường sơn Bê 1, bê 2
Bê 4 bê 5 bê 3 và Xê Ka biền biệt
Chúng tôi đâu biết
Vợ con cha mẹ bán thóc để đi tìm
Hài cốt chúng con hiền lắm mẹ cha ơi!

Đừng coi chúng tôi là nơi kiếm ăn chia màu lại quả
Chính sách nào thì cha mẹ cũng nuốt nước mắt vì con
Ở dưới đất đen vẫn có những hương hồn
Vẫn tuân thủ dưới trên và tình thương đồng đội
Chúng tôi không xé lẻ
Đội ngũ
chúng tôi không lưng lạnh hở sườn
Càng nhiều cậu nhiều cô càng nhiều những oan hồn
dằng dặc chúng tôi theo về để nghe tổ quốc mình cựa mở
Đất nước khang trang chúng tôi cùng hớn hở
Khói nhang thơm nưng nức liệt sĩ cười
Xin hãy vào nơi ở của chúng tôi
Người sẽ thấy phải thương nhau yêu nhau hơn nữa
Chúng tôi không nhân danh liệt sĩ
Đòi hỏi người đâu, ơi người ở dương trần

Sẽ còn có những phiên tòa xét xử lương tâm
Mà liệt sĩ chúng tôi âm thầm theo đến cuối
Những nhân danh máu xương chúng tôi để vơ bòn đầy túi
Cướp cả hồn cả máu của cha ông
Người ở dương trần người có biết không?
Những hội lễ trong lòng sông Thạch Hãn
Những Ga la trên Trường Sơn tĩnh lặng
Những cuộc vui vọng cổ đồng bằng
Những trai trẻ về từ đất Tượng Lăng
Từ hoa đá chập chùng cao nguyên đá
Chúng tôi gặp nhau người trên giời dưới bể
Xương cốt nào cũng của mẹ ta thôi

Xin hãy đừng quên có nợ với đời
Thì phải trả không lúc này thì lúc khác
Xin hãy nhớ đừng nhân danh đứng trên linh hồn người đã chết
Để tiến thân rồi sẽ khổ hậu duệ mình

Đất nước ơi! xương cốt rất hiền lành!

15/10/2015 

Wednesday, October 14, 2015

CUỐI BUỔI CÀY ( chỉnh sửa )


( Ta viết về ta lão nông
trót yêu em người hàng phố)
***
Thế là đã cuối buổi cày
Nắng đẹp cũng hồi sắp lặn
Vục nước vào đầu vào mặt
Một ngày đi qua nhẹ thênh

Những là bùn và là nước
Là mồ hôi nên mùa màng
Bệt đít ngồi lên bờ cỏ
Đồng làng chiều xuống lang bang

Cũng con đường này ngày xưa
Chân đất đến trường sương muối
Cũng con đường này buổi ấy
Em đi và anh cũng đi

Chuyến tàu cuối ngày ngang qua
Như thể tìm người quá vãng
Tiếng còi tàu y như xưa
Thời ta đi vào lửa đạn

Ta nợ một thời đằm mưa
Ta nợ một đời cua ốc
Cơn mưa cuối ngày nhắc nhói
Nợ vòng tay em dại khờ

Ta trở về làng chạng vạng
Mùa màng nửa cỏ nửa ngô
Chỉ có em thì không thấy
Đồng xưa con cuốc kêu khuya

Ta lật bùn ruộng của cha
Chẳng nhận ra hồn tiên tổ
Một thời công điểm hút xa
Chia lúa chia rơm chia cỏ

Em đi đâu chẳng về làng
Quýt bao mùa xanh rồi đỏ
Sông Hồng đêm lũ bồi băng
Mẹ cha nằm trên đồng gió

Rồi ai cũng sẽ nông nhàn
Lang thang tìm trong cây cỏ
Thấy cơn mưa của ngày xưa
Nắm tay đường bùn qua ngõ

Ta ngồi bờ ruộng cuối ngày
Nhập nhòe một đời đom đóm
Bùn đất thơm từ rất xưa
Chẳng kể đầu mùa cuối vụ

14/10/2015

Wednesday, October 7, 2015

Đám tang mẹ của người đồng đội


Về đi anh
Về đi một lần thôi đưa mẹ ra đồng
Chờ anh mãi không về . Mẹ đi.
Đám tang không mũ gậy
Đồng đội không thay được anh đâu
Thương anh hồn lang thang rừng sâu.


Đồng đôi chôn nhau đêm thâu
Mùa mưa Tây nguyên nước dòng bazan nhoe nhoét đỏ
Mẹ lội bùn ngong ngóng cánh thư xa
Gần nửa thế kỉ qua hết phải lo giáp hạt chả thấy anh về nhà
Nồi cơm mới ngẹn ngào chiều tắt nắng

Chúng tôi xếp hàng đi trong chiều vắng
Hội đồng ngũ thằng lành thằng hâm hấp bước thấp bước cao
Về đi anh đêm nay về nhé
vong Mẹ ở giữa nhà thắp nến chờ anh

7/10/2015

Sunday, October 4, 2015

MÙA THU XA XÔI.



Ta bất lực với em rồi mùa thu ơi
Vàng đến nỗi gió cũng không xanh nữa
Ta bất lực mùi thơm đồng lúa cũ
Sao cỏ may chỉ thơm lúc thu về?

Nước giếng làng trong ngẩn trong ngơ
Ta thờ thẫn buổi khai trường của năm mươi năm trước
Cặp mắt sáng những buổi khăn quàng đỏ
Ngọn gió thu đi từ ấy lại thơm về

Ta bất lực nhìn con chuồn chuồn trên đê
Thu cứ ở đằng sau mỏng tang áo cánh
Thu cứ ở sau tiếng cười rơi lanh lảnh
Bất lực ngoảnh về triền vụng dại ngày xưa

Ta bất lực với em rồi mùa thu
Không đủ mát để mát lùa vào tóc
Không đủ thơm để em thơm cánh đồng đang gặt
Mùa thu ơi mùa thu ở xa xôi.

4/10/2015

CHUYỆN ĐÒ DỌC .


Anh Quì cụt ngón chỏ và ngón giữa bàn tay trái. Nhưng anh không phải là thương binh. Anh cũng đi bộ đội nhưng trốn đơn vị lên rừng chặt vầu, bán lấy tiền tiêu riêng mà bị nạn. Anh giải ngũ với cái tên Quì cụt giữa hồi máy bay Mỹ lần đầu ra ném bom miền Bắc. Đơn vị anh, người ta nao nức lên đường vào Nam đánh giặc. Không khí cứ nóng hầm hập như nồi cám lợn sôi trên bếp. Còn anh, nem nép không dám ra khỏi nhà. Mẹ anh Quì là bà Thắm gù, thở ngắn than dài nhưng cũng theo chân bà con đến chơi ăn trầu uống nước úy lạo những anh bộ đội về phép thăm nhà để đi Nam. 

Anh bộ đội hàng xóm mời bà Thắm gù miếng trầu rồi hỏi:
- Anh Quì lấy vợ chưa hở Bá?
Rồi chả kịp để bà Thắm gù giả nhời. Anh đã thao thao kể, giá mà anh Quì không bị vầu sập cắp vào tay, đợt này thế nào anh cũng đi Nam với chúng cháu. Anh Quì bắn giỏi, lại liều mạng lắm nhá, đánh giặc sẽ hăng phải biết. Bà Thắm gù tủi thân ra sân nhổ cốt trầu rồi đứng mãi chả vào. 
Ngày ấy bộ đội đi vào Nam chiến đấu gọi là đi B. Ai đi B cũng là niềm vinh dự cho cả nhà, cho hàng xóm, hàng xã. Thanh niên làng nhìn những anh bộ đội mặc bộ quần áo xanh Tô Châu thùng thình nhưng ai cũng rắn giỏi, xởi lởi thăm thú họ hàng, chia tay tổ đội, chi đoàn mà thấy rạo rực. Ai cũng muốn mình nhớn cho nhanh để được đi bộ đội, được đi B, để các cô gái làng nhìn với cặp mắt tràn trề cảm mến. Anh Quì thui thủi trong nhà không dám ra đường. Khuya, anh gánh một gánh ống lươn đi thả. Gần sáng lại lùi lũi đi thu ống về. Bà Thắm gù đậy hai cái chậu sành, gánh đi bán. Ai cũng biết lươn anh Quì đặt ống ban đêm. Khối kẻ dè bỉu. Người đời tệ lắm cơ. Mua lươn thì có can hệ gì với anh không đi B. Chả ai dám nói lươn của anh đi B ngon hơn lươn của anh không đi B. Ấy thế mà hàng của bà Thắm gù vẫn ế. Người ta không muốn mua lươn của cái anh đàn ông chì chuộn không vào Nam đánh giặc. Bà Thắm gù đập hai cái chậu sành giữa chợ rồi về không. Những con lươn tuồn ra bò ngoăn ngoắn. Thằng rồ quét chợ cười he he nhào vào túm lươn, tay nó toe toet đầy nhớt.



Anh Quì không đi thả ống lươn nữa. Anh đi kiếm củi, chặt vầu, chặt hóp thả bè. Từ ấy người làng ít khi gặp anh. Thi thoảng thấy anh đi từ bến sông về, lạ hoắc tưởng người dưới xuôi lên sơn tràng. Mấy người hàng xóm vẻ am hiểu thì bảo:
- Tay này giang hồ thật đấy. Cả gan buôn bè một mình. 
Mà nể thật cho anh Quì. Đi bè kể cả mùa nước cạn cũng chết như chơi. Chả nói đến mắc cạn, đến vỡ bè. Một thân cô độc trên sóng nước, cảm mạo thương hàn bất thường, ai hám gì nỗi ấy. Vậy mà anh cứ lầm lũi đêm đi, ngày cắm cầy ven sông mà ngủ. Buôn bè lãi lắm. Những thứ vứt đi trên rừng, về xuôi cũng ra tiền. Chả thế chỉ một năm trời anh Quì mua sắm đồ đoàn trong nhà cho bà Thắm gù, xoong nồi, mâm bát chả thiếu thứ gì. Chiến tranh ở tận đâu đâu, chứ anh Quì thì cứ như cái lá tre trôi trên song, chả máy bay nào nhòm ngó. Người làng dần cũng quên, chả ai rỗi hơi mà bàn luận chuyện “anh Quì” nữa. 
Đùng một hôm, Quì về làng lúc nhập nhoạng dẫn theo một người đàn bà. Người ấy chào bà Thắm gù là Bu. Anh Quì bảo với mẹ, nhà con đấy ẹm ạ. Mai con mổ con gà thắp hương bố con và cũng đón nhà con về. Bà Thắm gù nhìn người đàn bà phốp pháp cặp mông chạng hang có giọng nói rất ấm. Bụng bảo dạ, con này mắn đẻ.

Người đàn bà tên là Nhời. Chị Nhời nhà gần ngay gốc gạo làng Xù, nơi Quì hay cặp bè, rồi bán bè luôn ở đó. Lúc đầu Quì nhờ chị nấu ăn, rồi sau thì ở trọ lại những hôm bè chậm bán. Thông cảm một nách hai con nhỏ mà chồng chết vì ho lao đã mấy năm, thế là Quì phải lòng chị Nhời. Nhời hơn Quì vài tuổi nhưng Quì mê mẩn Nhời lắm. Người đâu mà trắng như ngó cần. Anh chị chỉ gặp nhau vài chuyến bè là Nhời bụng đã lùm lùm. Đời chả biết thế nào mà lần. Chưa về với nhau thì Quì hăm hở đi hết chuyến này chuyến khác. Vội vã lên ngược, vội vã đóng bè xuôi. Tháng, Quì đi 3 chuyến. Về Xù hai ngày, lại lên ngược chặt nứa, chặt tre rừng xuôi sông luôn. Có nhau rồi , đêm nghe gió rít ngoài sông, bè vẫn neo lại đấy cũng thây kệ . Họ quấn lấy nhau hầm hập. Chị Nhời cười the thé. Khiếp! Bàn tay cụt này có ngón tay cái rõ khiếp. Quì lười dần, mỗi lần về Xù là cứ muốn ở tịt lại mà ôm cái thân nhầy nhẫy của Nhời. Nhời cầm tay Quì đặt lên bụng. Đấy con nó bảo anh phải chịu khó mà chạy chuyến, rồi còn nuôi con, nuôi em chứ. Nhời mân mê cái bàn tay cụt của Quì khiến Quì cảm động vô cùng. Sáng hôm sau Quì xách tay nải ra bến Nứa thật sớm. 

Thấm thoắt đã hai năm. Nhời đẻ thằng con trai xinh lắm. Bà Thắm gù sướng thẫn thờ. Nhời đưa con về thăm bà, còn bà thì chả bao giờ dám đi ra khỏi nhà. Hồi này, Quì toàn đi bè củi. Khắp vệt Bá Giang , Chèm Vẽ ai cũng biết Quì Củi. Nhời cũng mấy lần đi bè với chồng. Nhời khỏe, ăn nói dễ nghe qua mấy trạm kiểm lâm ngon như không. Có lần bè nhà Quì bị tóm lại ở trạm Ngọc Tháp. Cái trạm này khét tiếng nhất dọc sông Hồng. Nhời lên trạm. Nhời đi hai tiếng về thấy Quì hút thuốc lào thần thượi trên bãi chuối. Nhời gọi, đi thôi ! xong rồi. Quì làu bàu lâu thế ! Nhời lườm rồi chùi chùi tay vào đít quần. Cái bè củi óc ách trong đêm. Nhời thương ba chị em ở nhà tự cơm cháo đùm dúm lấy nhau. 
Sông nước đêm hôm, nó làm cho thân đàn bà thêm bền quắn lại như cái dây khoai lang hơ lửa. Tài thật, Nhời cứ nghĩ hay là thức đêm thức hôm nhiều mà sự ham muốn của mình nó dần dật thế. Nhời ôm Quì vật ra mặt bè. Mặc kệ cái bè củi trôi lùi lũi. Nhời tự thưởng chiến công vừa xin qua trạm kiểm lâm không tốn cân chè búp nào. Nằm ngửa nhìn trời đầy những ông sao và tiếng Quì ngáy phơ phơ lẫn trong tiếng nước sông Hồng.

Bây giờ thì người ta gọi là ông Quì rồi. Vài năm nay Quì xuống sức. Quì rụng cả tóc. Ngồi bờ sông hút thuốc lào ho rút cổ. Quì ho đến nỗi mấy thằng câu cá quay lại chửi. Nhời ra sông gọi Quì về. Thằng con trai bốn tuổi ôm lấy bố kêu bố hôi bố hôi. Đã mấy tháng nay, Quì chịu không thể lên ngược chặt tre kiếm củi nữa. Mấy đứa con cả chung riêng đều đi học. Nhời lo bấn xúc xích. Quì biết Nhời lo, thương lắm. Ông bảo vợ, thôi mình ạ, không đi bè được nữa, ta sắm cái thuyền đi chạy măng và chè. Nhời giãy nảy. Măng khô chè búp nó bắt ác lắm, dễ đi tù lắm đấy. Ông Quì vừa ho vừa nói, đói đầu gối phải bò. Mình làm được, làm được. 

Vợ chồng Nhời từ ấy đi đò dọc. Cái thuyền nan có cái vòm ở giữa. Lúc ngược đẩy sào , lúc xuôi bơi chèo. Tháng đi hai chuyến nhẹ hơn đi bè. Kiểm lâm cũng ít nhòm ngó vì cứ tưởng thuyền chài. Những đêm không mưa gió mát trời, con thuyền trôi êm như ru. Hai vợ chồng ôm nhau nghe nỉ non trong bờ tiếng ru con, tiếng trẻ học bài, tiếng vợ chồng nhà nào cãi nhau. Con đò dọc cứ chạy dọc sự đời. Một chuyến đò dọc như một năm. Một năm đò dọc như một đời. Đò dọc như không có bến, Nhời bảo với Quì, tôi và ông đi đến lúc nào chết thì thôi. Quì rúc rúc vào nách hoi hoi mồ hôi của vợ ậm ừ, nói vợ là đồ thối mồm.

Ông Quì ốm rồi. Người làng Xù bảo, bà Nhời to khỏe quá lại làm cho chồng ho lao. Có người xấu mồm thì bảo máu lắm cho chết. Nhời bỏ ngoài tai đàm tiếu. Chồng thì ốm mà Nhời càng phây phây mới lạ chứ. Đi đò dọc nhiều lần Nhời nhuộm lên da mình cái mầu bánh mật và mắt Nhời như có lửa. Điều này thì ông Quì công nhận. Trong đêm, ngồi đò xuôi song, ông nhìn mắt vợ như đốm lửa. Ông thấy lo lo sờ sợ. Những lúc như thế ông lại ôm lấy vợ. Ông Quì không muốn bỏ tay ra. Bỏ ra chỉ sợ đốm lửa mắt kia biến mất. 

Ốm quá, ông đành nằm nhà. Vợ ông lên ngược một mình. Chuyến này ông đã chuẩn bị hai chục kí chè búp, hai chục kí măng khô không thể bỏ mất mối lái đang vào cầu. Ông nói với Nhời:
- Nhà chịu khó vậy. Để tôi viết cái thư nhờ thằng em họ nó cầm lái cho nhà. Có nó là yên tâm. Nó họ xa nhưng giọt máu đào hơn áo nước lã. 
Nhời đi. Suốt cả tuần nay ông Quì bồn chồn. Ông ra gốc đa làng Xù nhìn ngược lên trên Chèm. Mặt sông hiu hiu, bãi bồi giữa sông hoa lau bàng bạc cứ đổ nghiêng về một phía.

***
Thẩm là cháu họ gọi ông Quì là cậu. Chả biết anh em ra sao hay chỉ là từ những chuyến gom hàng đi bè ngày trước mà gọi nhau như thế. Thẩm chưa vợ, hai bốn tuổi mà không phải đi bộ đội. Cứ kì khám tuyển nào là Thẩm đi khai thác tre nứa tít tận Mậu A Trái hút. Thẩm khỏe và bơi lội rất giỏi. Cũng đã đôi ba lần theo ông Quì đánh bè về xuôi. Trẻ thế nên đường làm ăn Thẩm xốc vác. Nhưng it khi Thẩm tự thả bè mà chỉ gom hàng bán cho lái bè. Lãi chắc, lại gom hàng, lãi tiếp. Vốn của Thẩm kha khá. Thẩm chỉ chơi bời chứ chưa thích cô nào trong làng. Thẩm bảo, lấy vợ là dễ đi bộ đội như chơi. Chả dại. Thẩm giỏi võ, bắp chân bắp tay cuồn cuộn. Nổi tiếng đấm đá trong vùng. Khôn như rận.

Đọc thư ông Quì gửi, Thẩm ngẫm ngợi. Đi đò dọc cũng khoái nhưng bị bắt hàng là mình mang vạ. Chả dại. Thẩm ngẩng lên nhìn người đàn bà ngực nần nẫn mắt long lanh. Cái áo bà ba căng lằn vết nịt vú cong cớn. Nhời quay sang nhìn Thẩm :
- Thẩm giúp anh Quì, Thẩm giúp tôi, tôi nhờ Thẩm đấy.
Có cái gì đó lạ lắm mà lần đầu tiên thẩm thấy, không giống như khi Thẩm nhìn lũ thanh niên làng. Chúng nó eo éo nhạt nhạt lại chua chua. Còn người đàn bà này nồng nồng mằn mặn. Thẩm mân mê lá thư ông Quì viết rồi đứng lên đi ra sân:
- Vâng thì đi.

***
Đò xuôi chập tối. Trăng lên thì tới bãi giữa Ẻn. Thẩm chống sào nhảy lên bãi vặt một ôm rau cải. Bẻ vài cây mía rồi bảo Nhời;

- Mợ vào lều mà ăn mía. 
Bóng Nhời nhập nhòa . Từ trong cái vòm lá cọ giữa thuyền Nhời thấy Thẩm ngồi chèo như người múa. Tiếng cậm kịch mái chèo va vào thuyền đều đều. Chiều nay trước khi thả thuyền, Nhời tắm gội sạch sẽ và làm con gà luộc thắp hương trên bãi sông. Mặt trời lặn hẳn hai mợ cháu uống hết cút rượu trắng mới lên thuyền. Trăng lên giãi mặt sông như ngọc. Nhời nhìn mặt nước giống hệt làn ra người khỏa thân tắm trần. Nhời bảo Thẩm :
- Thẩm xuống mà tắm cho mát rồi đi. Gần sáng đến Trung Hà cắm sào ngủ lại. 
Con đò cắm lại ở đuôi bãi giữa. Đêm, bãi giữa là hòn đảo hoang. Là thiên đường của đa đa, vịt giời. Mùi hoa lau và hoa cải bay trên mặt sông lẫn mùi nước phù sa nồng nã. Trăng loang loang . Thẩm cởi áo nhẩy ùm xuống sông. Nhời có lạ gì chuyện tắm truồng ban đêm trên sông. Trăng rõ là lồ lộ mà trăng lại choàng tấm lụa mỏng khiến thân người kín đáo không lộ liễu. Dưới trăng rõ ràng là tơ hơ mà không tô hô. Trăng cũng vàng mà nước cũng vàng. Da thịt con người nhầy nhẫy vàng hòa với nhau một huyễn hoặc râm ran. Có tiếng chim đa đa tìm nhau trên bãi cỏ hoang. Tiếng nước phì phọp. Hơi rượu phảng phất từ phía Thẩm tắm hay từ cổ áo mình lúc chập tối. Nhời thấy miên man là rượu là tiếng sóng khua trăng lăn tăn. Thẩm lên thuyền từ lúc nào Nhời không biết. Thẩm vò cái áo và cởi trần cầm chèo:
- Đi chứ ạ. 
Nhời bảo :
- Thẩm lạnh đấy, áo giặt rồi lấy áo này khoác lên kẻo sương.
Nhời bò lại đuôi chèo khoác cái áo cánh của mình lên cho Thẩm. Mùi mồ hôi đàn bà thật là gần. Thẩm dừng tay chèo nhìn vào cặp mắt Nhời. Mắt có lửa. Nhời xoa tay nên ngực trần của anh con trai kém mình chục tuổi. Nước sông lấm tấm trên người Thẩm mát lịm còn bàn tay người đàn bà nạ dòng nóng như than. Trăng ló ra rực rỡ. Thẩm nắm tay Nhời. Chị Nhời cứ lặng im. Hai bàn tay đặt lên ngực Thẩm mịn màng truyền vào cơ thể Thẩm luồng điện rần rần.
Con thuyền bùng bình soàn soạt cỏ lau cọ vào mạn thuyền dưới trăng. Cái vòm lá cọ chỉ đủ che một khúc giữa, hai cái đầu và bốn cái chân họ thò ra ngoài sương đêm. Chị Nhời ư ử trong gầm gừ của anh con trai đang thì vừa có hơi rượu. Bãi giữa vụt mơn mởn đẹp như bồng lai. Suốt đời chị Nhời mới gặp thế này một lần....Con đò dọc mang theo một đời người chứ đâu phải một chuyến đi. Vài ngày sau nó lại lên ngược rồi lại bùng bình trôi xuôi. Ông Quì ốm lắm. Nhời biết mà vẫn phải lên ngược vì hàng đang trúng quả. Chợ búa, rau cỏ đủ cho mấy bố con vài ngày là Nhời lại đi. Ông Quì nhìn Thẩm và Nhời vác chèo ra sông mà nước mắt ngần ngận. Nhời thấy mình trẻ như gái đôi mươi. Chưa bao giờ chị Nhời ăn khỏe như hồi này. Con đò lần nào cũng cắm lại bãi Ẻn. Và đêm nào dù mưa hay rười rười ánh trăng Nhời cũng thấy mình gặp bồng lai. Nhời biết mình có mang sau lần đi đò dọc đầu tiên một tháng. 
Ông Quì để vợ đi đò dọc chừng dăm tháng thì bệnh ông nặng lắm. Khổ thân ông, nhìn chị Nhời bụng phườn phưỡn ra vào chăm sóc ông mà ông đau đớn. Ông Quì lại ra đi giống hệt như anh chồng đầu của Nhời. Ông Quì chết ở quê vợ. Bốn đứa con một mình chị Nhời gồng lên lo toan. Từ ấy chị chả đi đò nữa. Quê ông Quì cũng xa lắc lơ với chị. Chị chạy chợ hoa quả ra Bắc Qua nuôi con. Chị cũng chả trở lại gặp đứa cháu họ mà nhiều lúc chị cho là đồ mất nết nữa. Thời gian trôi như nước qua cầu Thăng Long gần làng chị. Chuyện đi đò bây giờ xưa như cổ tích. Người ta sang sông bằng cầu dây văng. Người ta lên ngược về xuôi bằng xe giường nằm cao tốc. Ở trên làng người ta cũng quên chuyện anh Quì củi từ tám hoánh nào rồi. Bà Nhời nay cũng vào tuổi bẩy mươi.

***

Một buổi trưa. Ông Thẩm cởi trần ngồi xem Ti Vi. Có cái xe máy rồ ga vào tận sân. Ông nhìn ra. Quái lạ, thằng này là thằng nào mà nghênh ngáo nhỉ. Mặt nó chưa nhìn thấy bao giờ nhưng nom quen quen. Người đàn ông ngó nghiêng căn nhà xây kiểu biệt thự bên sông Hồng của ông Thẩm. Rồi lom lom nhìn cái xe ô tô Artis ông Thẩm mới mua, được che đậy cẩn thận. Người đàn ông bước vào nhà rất tự nhiên. Anh ta cất giọng:

- Chào ông Thẩm. 
- Anh là...là con nhà ai ...ở đâu ?
Anh ta ngồi xuống ghế. 
- Ông phải biết tôi chứ? Ông cố tình không biết à?
- Không, rõ là tôi không biết anh là con nhà ai.
- Vậy tôi tự giới thiệu nhá! Tôi vừa ra trại trên Hồng Ca về. 
Ông Thẩm xua tay:
- Không không. Tôi rửa tay gác kiếm lâu rồi không liên quan đến ai cả. Anh nhầm nhầm đấy. Người đàn ông cười ha hả
- Ông sợ rồi. Tôi không đến để rủ ông quay lại giang hồ. Những ngày trên trại tôi tìm hiểu ông rất kĩ qua bạn tù. Ông cũng đáng được tôi gọi bằng bố đấy. Bố Thẩm ạ. Người đẻ ra tôi là bà Nhời ông ạ. Nhờ giời bà vẫn khỏe và chỉ đường cho tôi lên đây gặp bố. Thấy cơ ngơi bố mình thế này tôi mừng, tuy chưa biết sẽ xin bố cái gì. Thôi tôi về Hà nội đây, dịp khác tôi lên với bố. 
Anh ta vào và ra cũng nhanh như nhau. May mà con cháu ông Thẩm hôm nay đi ăn cưới trên thành phố cả. Không ai biết thằng con hoang lạ hoắc hơ sồng sộc đến nhà. 
Mồ hôi ông Thẩm đầm đìa. Con đò dọc xuôi đêm lại hiện về lúc đang trưa. Chả có bến neo đậu an lành cho phận đò dọc. Nó là đời nước, nó chảy miên man . Những phận đời đò dọc cứ gắn với nhau, gắn bó bền bỉ đau đớn của những kẻ cùng đò. Chỉ có điều nó hiện ra lúc này hay lúc khác mà thôi.

Hà Nội 3/10/2015 

Friday, October 2, 2015

Bất chợt nhớ



15/1 năm ấy cũng rét và mưa bụi . Chúng tôi ngồi túm tụm trên đồi sim gần ga Lương Sơn . Có cây ghi ta của Bùi Thái Hà khoa điện phập phừng . Phía thành phố Thái Nguyên tối om om , nhà ga chỉ mấy ngọn đèn bão đỏ quành quạch . 


Cả một tiểu đoàn ngồi trên đồi chờ tàu để lên đường đi vào Nam . Không có quân cảnh , không có hàng rào biệt lập , đồi thì mênh mông mà đêm và sương lạnh cũng mênh mông . Chúng tôi hát , bài hát Xuân chiến trường của Nga, chúng tôi sít soa vì rét. Bên C4 bọn đại học y khoa có rất nhiều bạn gái chia tay. Còn bên C tôi mấy anh Kĩ Thuật thì chỉ đàn ông với nhau. Tôi nghe có cả tiếng cười tiếng khóc của con gái ở góc rừng đầy mua sim C4. Tôi sờ trong túi, lá thư bố tôi viết cho tôi mới nhận hôm qua. Bố tôi viết 8 trang giấy poluya, tám trang giấy là nước mắt và hi vọng của bố mẹ tôi. Tôi nhìn qua hướng Tam Đảo. Phía ấy là quê tôi. Phía ấy đêm tối mịt mùng .


Khuya , chúng tôi lên tàu. Con tàu già nua cũ kĩ chở đầy ắp những là tuổi xuân. Gần 600 người lính Sinh Viên trật tự như xếp hàng vào lớp. Nhẹ nhàng cẩn thận. Trời sáng suông. Những tiếng gọi tên nhau bị dồn nén bật lên thành nức nở. Bạn gái khóc. Người đưa tiễn khóc . Nơi con tàu đưa chúng tôi đến là hi sinh là chết chóc. Giờ phút chia lìa cũng là đây. Cái đèn nửa vàng nửa đỏ của nhà ga lúc lắc. Có tiếng còi tàu khàn khàn rúc lên . Tiếng còi tàu mãi mãi là tiếng chia xa.

Hơn bốn mươi năm sau. Cái ga tàu cũ kĩ ấy vẫn thế, không cũ hơn được nữa . Một mùa hè tôi trở lại ga Lương Sơn, tôi gặp một cái đầu máy hơi nước tàn phế ở một khúc đường nhánh rẽ vào trạm sửa chữa. Tôi chợt nhớ con tàu đưa chúng tôi đi chiến đấu ngày xưa.Tôi chợt nhớ bao nhiêu bạn tôi hôm ấy không trở về. Tôi chợt nhớ những người ở ga sép này vào một đêm sương lạnh.

2/10/2015