Sunday, October 25, 2015

NHỮNG VẺ ĐẸP NGUYÊN KHỐI


Tuần này, trên báo VĂN NGHỆ sẽ đăng bài viết của nhà văn Đỗ Tiến Thuỵ sau khi đọc cuốn " Bóng đổ nhà mồ " của tôi.
Treo bài này lên để ta thấy nhận xét của người trong nghề văn, một nhà văn Quân đội.
25/10/2015
NHỮNG VẺ ĐẸP NGUYÊN KHỐI

(Đọc Bóng đổ nhà mồ của Nguyễn Trọng Luân, NXB Hội Nhà văn 2014)

ĐỖ TIẾN THỤY
Nguyễn Trọng Luân là người đã có những tháng năm sống và chiến đấu ở Mặt trận B3, nơi đồng bào Tây Nguyên có văn hóa nhà mồ với những bức tượng độc đáo. Độc đáo bởi không phải ai cũng làm được loại tượng này. Và có học cũng không làm được. Người đẽo tượng nhà mồ vốn là những trai làng bình thường, sống và nếm trải mọi buồn vui trong cộng đồng. Đến một ngày nào đó, vào một khoảnh khắc nào đó, họ bỗng có cảm hứng xuất thần. Chỉ từ một súc gỗ rừng nguyên khối và một chiếc rìu đơn sơ, nhưng nhờ trạng thái thăng hoa, chỉ cần một vài nhát đẽo là họ đã cho ra đời một tác phẩm. Những bức tượng nhà mồ mang đủ sắc thái nhân sinh rất có hồn khiến các nhà điêu khắc chuyên nghiệp cũng phải trầm trồ thán phục.
Những câu chuyện trong tập sách của Nguyễn Trọng Luân cũng thế. Cái quá khứ chiến tranh thời trai trẻ của anh đã không thể ngủ yên, không thể nguôi quên. Trở về đời thường, trải qua mấy chục năm vật lộn mưu sinh, càng sống, càng hiểu lẽ đời thì những kí ức ấy càng cựa quậy, đòi hỏi được bung ra. Và chỉ cần một cái cớ...
Nhìn cây bàng trên phố anh nhớ đến rừng khộp thời chiến tranh (Lá khộp). Ngắm hai cây me tại chiến trường xưa nhớ lại cả một trận đánh khốc liệt với nhiều tính huống trên đường 7 tháng 3/1975 (Hai cây me vẫn xanh màu lá). Nhìn những đọt măng vầu bán trên đường phố Hà Nội nhớ những câu chuyện về măng lồ ô ở Tây Nguyên (Măng lồ ô). Thăm lại chiến trường xưa, những cuộc gặp gỡ chủ ý hoặc tình cờ, từ một lời hỏi thăm, một câu gợi nhắc… là những khuôn mặt bè bạn với những nét tính cách rất riêng thông qua những giai thoại thời chiến lập tức ùa về (Ba người bạn lính, Chiều cuối năm, Chuyện trong ngày họp mặt trung đoàn, Chuyện ở nhà thằng Sơn rồ C20, Trung úy Thúng, Quán Hai Bền, Trở về Củ Chi…)
Cả 31 truyện, Nguyễn Trọng Luân đều vừa là tác giả vừa là nhân vật tham gia chứng kiến sự việc nên những trang văn của anh tươi ròng chất sống. Nó là những biểu hiện rất đời của những người lính trong hoàn cảnh bom đạn khốc liệt ngày trước và cả những thử thách cam go của cuộc sống sau này. Dù nhân vật là người còn sống hay đã hi sinh, đã thành đạt hay còn nhọc nhằn vất vả, đều được Nguyễn Trọng Luân dành cho một tình cảm yêu thương nặng trĩu

Nguyễn Trọng Luân được xếp vào dạng nhà văn chống Mỹ “đánh nhau xong rồi mới viết”. Vốn tri thức của một sinh viên đại học giúp anh khi vào chiến trường có một nhãn quan khác người, một lối tư duy khác người. Hiện thực chiến tranh được anh lưu giữ mấy chục năm đã không uổng phí. Cái hay của sự viết muộn là thời gian đã làm phôi pha bớt những “tạp chất”, cái gì còn đọng lại trong kí ức hẳn là điều đáng kể. Tình đồng chí, nghĩa đồng bào, ái tình, lí tưởng, cái cao cả, cái đớn hèn…, tất cả đều được chắt lọc và tái hiện bằng một giọng văn khỏe khoắn mà trữ tình, khi tếu táo lúc ngậm ngùi xa xót của một cựu chiến binh tài hoa giàu hoài niệm, sinh động và chân thực đến nao lòng. 


Đọc Bóng đổ nhà mồ, dù là tập truyện ngắn, nhưng dễ nhận thấy Nguyễn Trọng Luân rất ít hư cấu. Bởi những câu chuyện tự thân nó đã mang đầy ý nghĩa, chả cần hư cấu đã đủ hay rồi. Như những bức tượng nhà mồ, dù thô phác nhưng lại có sức cuốn hút kì lạ. 

Đ.T.T

Trên Sáu dưới Tám


Mình nhớ cách nay hơn 40 năm ở chiến trường Tây Nguyên rúc trong hầm hay sau trận đánh làm thơ. Có những bài thơ viết dở rồi bỏ chạy khi bị tập kích. Cũng có bài thơ viết vào tờ truyền đơn của địch rồi cũng vứt ngay tại chỗ không dám mang theo. Nhưng ít khi viết bằng thơ lục bát. Bởi với mình lục bát khó làm hơn và cũng khó hay với chiến trận.
Có một chuyện nhớ mãi là viết bài thơ GƯƠNG MẶT CHIẾN SĨ, viết hôm 2/12/1974 sau một trận đánh. Mấy ngày sau rúc trong hầm, mình đọc cho mấy thằng nghe. 
Một thằng người Thái Bình tên là Đấu nói:
- Đ. phải thơ. Đ có trên 6 dưới 8 là “đéo hay”
Một thằng nữa tán thưởng. 
- Đéo hay
Bây giờ nghĩ lại. Mẹ kiếp, hồi ấy mà có thơ VI.T.L thì chúng mày chết tắc. Chúng mày chết hứ hự.
Bài thơ đọc hôm ấy đây.

GƯƠNG MẶT CHIẾN SĨ
Sau trận đánh về nhìn đồng đội thân yêu
Những gương mặt trẻ già riêng biệt
Khói đạn khói bom đất bùn bê bết
Nhưng mắt ai cũng sáng nụ cười

Trăm con người trăm quê muôn nơi
Trăm gương mặt khác nhau
Giọng nói nụ cười cũng thế
Vào trận đánh
Ừ sao lạ nhỉ
Khuôn mặt nào cũng sắt lại như nhau
Tiếng thét xung phong không phân biệt khu nào
Khu 4 khu 3 đều rành rọt
Những gương mặt khác nhau cũng trở về làm một

Chiến sĩ trẻ lầm lì tăng tuổi rõ nhanh
Chiến sĩ già vẫn bình tĩnh lặng thinh
Từng phát súng đàng hoàng như tuổi tác
Chỉ có lúc về là rõ ràng phân biệt 
Những nụ cười gương mặt của Xê tôi .


Chiều 2/12/74 sau trận đánh với k3E53F23

Friday, October 23, 2015

VÀO TRẬN MỚI.

Nhật ký ngày 16/4/75
Mấy ngày ốm ở nhà lẩn mẩn, khai quật cái trang nhật kí này. Dịch lại như sau:
"16/4/75 Nghỉ tắm giặt. Như thế là trận pháo hôm qua làm cháy mất 2 xe con trong đó có xe anh Thuỷ . 
Nếu như ba lô anh Thuỷ mà cháy thì chắc tập " Vào Trận mới " cũng mất rồi. Tập thơ hơn 20 bài mà mình đã chắt chiutrong những ngày gian nan. Bây giờ bản thảo chả còn bài nào tiếc quá.
Chiều ngủ rồi học bản đồ."......

Nhưng trời còn thương, mình moi trong đống sổ rách nát thấy có bài " đinh" của tập thơ ấy là bài VÀO TRẬN MỚI. Chép lại chia sẻ với bạn lính nhé.

Vào trận mới

Ta lại vào trận mới
Mùa khô tàn lá Tây nguyên
Con suối réo đêm khát nươc
Bông hoa rừng ngơ ngẩn chiều hôm

Ơi khoảng trời đêm
Buông từng giọt sao gieo mầm sáng trên nương đồi bát ngát
Con nai rừng lạc mẹ
Thảng thốt từng hồi nghe động bước hành quân

Đêm chiếm lính nghe con chim đạp lá
Tổ ấm chừng lạnh sương rơi
Cái lặng im của núi rừng vời vợi
Đêm không giật mình nghe pháo địch nổ xa

Trận mới hôm nay và trận cũ hôm qua
Vẫn nượp nà lặng yên bình tĩnh
Khi ngân hà xoay ngang là giờ nổ súng
Vào trận đánh rồi trời sao vẫn lung linh

Nỗi nghĩ suy vào trận mới mung lung
Như người tân binh lần đầu ra trận
Nhưng đều tan nhanh khi nghe mệnh lệnh
Cửa mở bắt đầu đồng đội xung phong

20/11/1974

Thơ viết trước ngày cưới vợ ( 1978)


Nghĩ lại ngày cưới cách nay đã 36 năm- tháng 10/1979. Giở cuốn sổ cũ mèm chép lại mấy khổ thơ trước nhày cưới vậy mà chụp ảnh không biết làm sao nó nhẩy lộn dưới lên trên . Tóm lại là bản dịch thế này
viết lõm bõm không liền mạch
........
Thế rồi có một mùa thu
Mình đi cùng với sương mờ hồ tây
Nghìn năm nước vẫn vơi đầy
Mà sương mù vẫn còn đây với hồ

Nghèo trong như nước Tây Hồ.
Nắm tay em ấm hẹn hò trong tay
Tiếng cười tiếng guốc đâu đây
Tan vào tiếng gió lá bay mạn thuyền

Nói câu chuyện cũ chiến trường
Để làm chi giữa yêu đương tự tình
Hoa bằng lăng tím rung rinh
Trên đầu mình có vô tình đâu em

Rưng rưng bước giữa Sài Gòn
Ngỡ mình đang ở Trường sơn hôm nào
Bạn bè nằm lại đâu đâu
Có mơ thấy được tím mầu Bằng lăng.

Đưa em về với đồng vàng
Cỏ may bịn rịn con đường em đi
Luỹ tre xanh mái tóc thề
Lung lay nước tím hoa bèo tuổi thơ

Tình yêu bỗng hoá dại khờ
Trước người mẹ vẫn đợi chờ đứa con
Nương khoai vàng lúc hoàng hôn
Luống rau xanh mướt sau cơn mưa chiều

Đời sao cứ phải mĩ miều
Trong từng câu nói trong chiều gặp nhau
Nói mà lòng cứ đâu đâu
Ngoài đường gió cứ vàng mầu núi non

Câu thơ viết ở Sài gòn
Mực còn tươi gió còn thơm đầu mùa
Lá thư nhoè nước mùa mưa
Hơ qua bao lửa bây giờ vẫn đây

Chép lại 1978
Cuốn sổ nhật kí bằng thơ trước ngày cưới vợ. Hồi ấy mình rất chi là cóc kẹ

Monday, October 19, 2015

Thơ 20/10


Đâu chỉ có 20 tháng 10 để ta nhớ mẹ
Để nhớ em lặn lội tảo tần
Đâu phải để người đời nhắc nhở 
Mới nghĩ về người phụ nữ ta yêu

Quê hương đâu chỉ là chùm khế ngọt
Mà cả bữa ta ăn quán sá nhà hàng
Ta vẫn nhớ về quê còn đang khói bếp
Em ta quây quần nồi tương nức tép rang

Ngày mẹ sống chẳng có 20 nào cả
Mẹ chỉ lo 20 tháng chạp đến rồi
Mai ông táo lên giời nhà không khói
Những manh quần con trẻ vẫn tả tơi

Hoa dù đắt mẹ chả còn lo nữa
Mồ mả tổ tiến xa ngái tự bao giờ
Hoa đường phố chả rưng rưng được nữa
Chỉ thấy ồn ào huyên náo những là thơ

Con lẩn thẩn ngày nào cũng là ngày của mẹ
Ngày nào cũng là ngày của vợ những buồn vui
Con lơ đễnh cái ngày 20 tháng này mẹ ạ
Con lại về thắp nhang mẹ mẹ ơi

19/10/2015

Sunday, October 18, 2015

QUÀ TẶNG LẦN ĐẦU TIÊN CŨNG LÀ LẦN CUỐI


Ngày mai 20/10. Tôi treo bài này lên hi vọng nếu có bạn nào ở Quảng Ngãi Quảng Nam đọc được và có ghé qua nghĩa trang xã Tịnh Bình Sơn Tịnh thì thắp giùm chúng tôi nén nhang mộ cô gái Giao Liên VÕ THÚY VINH. Xin cám ơn
****
Tôi quen anh Hoàng Sơn Lâm tình cờ. Anh là người bạn của bạn tôi . Bạn tôi cùng lính quân khu năm thời chống Mĩ với anh.
Gặp nhau ở Bắc Giang chúng tôi ôn lại chuyện một thời gắn bó với Trường sơn, một thời hiến trọn tuổi trẻ đời mình cho cuộc chiến đấu của dân tộc. Hôm ấy anh Lâm chẳng nói gì về mình, anh cứ trầm ngâm nghĩ ngợi rồi anh bảo với chúng tôi, chuyện người lính như mình thì gian khổ ác liệt là lẽ thường . 
Bỏ cốc bia đang uống dở anh bỗng đứng dậy lấy xe phóng về nhà. Tôi và bạn tôi ngơ ngác. Lát sau Lâm trở lại cầm cuốn sổ cũ nát ố vàng nét chữ đã mờ run run lật đến một trang của cuốn nhật kí nói, anh đọc đi, cả đời tôi quí nó lắm. Hai chúng tôi ghé đầu đọc chung . Thú thật , hôm ấy tôi nhìn Lâm khóc mà cũng nghẹn ngào. Câu chuyện về một nữ giao liên mà anh Lâm viết thành bài thơ xúc động . Sự xúc động chân thực bởi tất cả những cái tên, tất cả địa danh và sự việc là thực. Chỉ có nghĩa tình đồng đội yêu thương nhau lắm mới có thể viết được như thế. Ba chúng tôi im lặng mãi. Rồi anh kể về người con gái giao liên ấy nghẹn ngào …
Tròn hai chục năm sau ngày giải phóng Lâm trở lại Quảng Ngãi cùng với em trai cô giao liên đi tìm mộ cô. Tình nghĩa chân thành thiết tha với đồng đội của Lâm được đền đáp, anh tìm thấy cô gái …
Chúng tôi lặng đi. 
Lâm lại khóc . Lúc ấy tôi cứ như bị thôi miên trên trang sổ của anh , nét chữ nhập nhòe như hiện lên một đêm mưa lũ núi rừng Trà Mi mấy chục năm về trước

Bài thơ Sông Tang .
Ba loạt súng nổ rền 
Vang lời chào vĩnh biệt 
Anh bàng hoàng đứng im 
Có lẽ nào em chết


Bữa chiều nay có cá 
Em trực, nón ngang qua 
Biết tối về em đói 
Anh phần cơm trong nhà


Anh khẽ gọi Vinh ơi 
Không nghe em dạ nữa 
Nồi cá còn ấm hơi 
Từ nay …em vắng bữa


Ôi nỗi đau mất em 
Phủ vàng hoe nấm mộ 
Đất rừng tiếc thương người 
Khóc thành muôn hạt đỏ


Hỏi bao nhiêu buổi sáng 
Trà Thọ trắng sương mờ 
Vai gùi công văn nặng 
Em vượt đèo” chín cô “


Hỏi bao nhiêu trưa nắng 
Nóng ướt đầm áo lưng 
Bàn chân em mải miết 
Eo Xà Lang rẽ rừng


Hỏi bao nhiêu chiều mưa 
Bộ bà ba sũng bết 
Giữ khô gùi giấy tờ 
Lội Nà Liêu quên rét


Thương em thương em lắm 
Người sốt , trực gắng đi
Đêm nào anh làm đuốc 
Soi cho em lối về


Một tháng bấy nhiêu ngày 
Trên đường em không nghỉ
Còn tỉa bắp trồng khoai 
Tăng gia cùng đơn vị


Nhà anh không sáng nữa 
Đôi mắt đen ngời ngời 
Dòng sông Tang lạnh ngắt 
Tiếng hát chòi êm bơi


Anh ào qua con suối 
Em nằm đó ven rừng 
Phải đây là sự thật ?
Trời xanh, cao vô cùng


Anh gỡ tóc cho em 
Mái tóc hung gợn sóng 
Xoáy lũ cuốn rối bời 
Xát lòng anh muối đắng


Chiến trường không có ván 
Liệm em bằng tấm tăng 
Và những dòng nước mắt 
Thay cho lời điếu văn


Hôm nay anh hành quân 
Vai ba lô sải bước 
Đường xuôi ngược vết chân 
Dấu xưa em mải miết


Em là dốc “ chín cô “
Tà Veo soi mưa nắng
Một màu xanh sót sa 
Nhuộm thời gian đằm thắm 

( phà sông Tranh - Trà Mi tháng 12/1974 )

…. Lâm ngước lên, mắt đỏ hoe .

Ngày 20/5/1995 tôi tìm thấy em . Trời ơi tôi còn thấy được mớ tóc của em và hàm răng thật đẹp . Tôi đặt lọ nước hoa nhỏ mua từ Bắc Giang mang đi bên mớ tóc em . Món quà đầu tiên cũng là món quà cuối cùng tôi được tặng em . Em hi sinh cũng đơn giản như sự hi sinh của nhiều người lính . Một cơn lũ đêm đã cuốn trôi em trên đường giao công văn …Bây giờ mộ em nhỏ nhắn khiêm nhường trong nghĩa trang Tịnh Bình , Sơn Tịnh, Quảng Ngãi với cái tên Võ Thúy Vinh – chiến sĩ Giao bưu tỉnh Quảng Ngãi .



Tháng 7/2013