Monday, January 11, 2016

TÌM VỀ MÙA THU


Anh ngập ngừng tìm về phố cũ
Mùa Thu rơi trên hoa râm
Con phố vẫn từ xưa cũ
Lá vàng đổ xuống rêu phong

Có hương gì thơm như tóc
Guốc ai như trái Sấu lăn
Ngõ nhỏ lựng thơm hương Cốm
Chân trần người giờ nơi đâu

Nắng loang cánh diều ngoài bãi
Em níu chiều vào triền đê
Nhặt cỏ May gấu quần con gái
Ngỡ ngàng anh thấy Thu về

Rồi có một ngày Thu thơm
Nhặt gió chiều vàng hồ Tây
Rồi có một chiều Thu muộn
Áo em ướt cả Tây hồ

Ngày anh đi xa bối rối
Mùa Thu rơi trên sân ga
Em về guốc buồn thổn thức
Ôi mùa Thu, mùa Thu xưa

Tìm về phố Thu xao xác
Mưa bùi ngùi những bước chân
Tiếng chuông nhà thờ Cửa Bắc
Lang thang đi tìm mùa em

Tìm về phố Thu năm ấy
Góc đường ngày tiễn anh đi
Trái Sấu lăn trên phố vắng
Nghe như bước chân em về


2014

Friday, January 8, 2016

Canh sắn


Mấy anh em hôm về quê bảo nhau, kiếm nồi canh sắn khô nấu ốc vặn như ngày xưa đi! Các bà vợ cũng tán thành cao. Hăm hở thế mà tối hôm đầu tiên về quê, các em ở nhà đi rảo quanh xóm về buồn hiu. 

Chúng nó ngán ngẩm. Cả xóm không nhà nào có sắn khô nữa. Ngay cả sắn củ để luộc ăn bây giờ làng cũng khó kiếm. Toàn những loại sắn cao sản khỉ gió gì ấy, luộc ăn là say chết ngay. Đến trâu cũng không ăn lá sắn nữa. Nghe thất kinh. Trời lạnh, ngồi quanh bếp củi, lại nói về chuyện canh sắn khô nấu ốc ngày xưa cho bõ thèm, bõ nhớ. 
Ngày ấy quê tôi sống một phần gạo ba phần sắn. Chả thế có cái cụm từ “lượng thực qui thóc”. Những ai tuổi 45 trở lại là không biết cái PHẠM TRÙ này. Họ tính cả sắn rồi qui tỉ lệ ra thành thóc. Nghĩa là cứ như 1 tạ sắn thì bằng 15 cân thóc. Anh mà có sắn đến 1 tấn thì coi như vụ ấy anh đã thu nhập tạ rưỡi thóc. Tạ rưỡi thóc thì no kinh người còn gì nữa. Thế là dân cứ ăn sắn mải miết và thành tích dân được ăn no cứ được báo lên trên. Người ta thu thuế cũng có cả sắn. Người ta làm bánh kẹo bằng sắn. Người ta làm nước chấm từ sắn. Vân vân và vân vân những là sắn. Quê tôi nấu rượu sắn, làm chè sắn, làm tinh bột sắn bán cho thương nghiệp … và trong hội hoạ, một hồi có cả tượng gốc sắn. Sắn đi vào cả giấc ngủ vào cả tình bạn trai gái đàu đời rủ nhau ra vườn sắn tâm sự. Thôi lan man mãi quay về chuyện nồi canh sắn nấu ốc cho bõ nhớ.
Tôi là nhớn nên chuyện phải giã sắn khô để giần ra bột nấu canh luôn phải đảm đương. Những miếng sắn khô đùm lá cọ để giành moi ra cho vào cối giã tay. Giã đến sã cánh rồi cho ra giần lấy bột. Giã kĩ , giần kĩ bột nhỏ nấu canh ngon. Giã dối giần ít lượt bột to như trứng kiến nấu ăn lật bật trong mồm. Mùa đông, bắt ốc vặn được nhiều. Thả ốc vào cái vại sành, mỗi bữa luộc chừng hơn kí ốc rồi nhể ra bát để nấu canh sắn. Nồi nước nấu canh cho muối vào bắc lên bếp, rồi bốc bột sắn vòng tròn khi nước còn lạnh. Bột không rắc đều và mỏng mà gặp nước sôi sẽ vón cục lại mất ngon và không chín. Cứ thế một tay rắc bột một tay quấy đũa vòng tròn cho bột tan đều rồi đun sôi thả ốc vào, cho rau Thì Là vào là bắc ra ăn xì xụp. Mẹ tôi khoán, mỗi đứa ăn hai bát canh sắn rồi ăn thêm một bát cơm độn sắn nữa là rửa chân hơ vào bếp rồi học bài. Mùi canh sắn thơm ngậy. Húp nóng tê cả người. Ngoài phên cửa gió bắc lùa eo éo. Bát canh sắn khói nghi ngút. Anh em tôi húp canh nóng quên cả cái lạnh cóng ở đôi bàn chân cáu bùn chưa rửa. Đến già tôi vẫn không quên nhìn những đứa em tôi vừa húp canh mà mười đầu ngón chân chúng nó cứ quặp lại trên nền đất.

Thời gian trôi vèo. Đồi gò quê tôi chả nhà ai còn trồng sắn nữa. Nay chỉ còn vài nhà vẫn trồng đôi trăm gốc sắn vỏ đỏ thời cũ trong vườn chỉ để luộc ăn cho đỡ nhớ. Thèm rau sắn chua nấu cá trê cũng gọi điện về cho các chú các thím ở nhà kiếm trước. Một thời “ nhà nhà trồng sắn người người ăn sắn “ xa lắc lơ , thế mà kí ức về sắn cứ đuồn đuỗn trong tâm hồn già nua của tôi. Tôi nhớ cái lá sắn xoè bàn tay như ngôi sao khuyết một nửa. Tôi nhớ những nong tằm nuôi bằng lá sắn nhà tôi khai nức nở. Tôi nhớ nương sắn vào cữ tháng tư xanh mơn mởn trong nắng đầu hè và tháng 12 thu hoạch sắn hí hửng rộn ràng. Tôi không kịp thống kê những đứa bạn tôi mang tên thằng Sắn , con Sắn là bao nhiêu trong làng. Nhưng những năm 80 khi học ở trường Tuyên Giáo Trung Ương, tôi từng gặp một cô tốt nghiêp tổng hợp văn vào học đại học Báo Chí tên là Sắn. Ba mươi lăm năm nay không gặp lại cô “ báo chí “. Ấy thế mà cứ khi chuyện về nồi canh sắn, tôi lại nhớ khuôn mặt cô cử nhân tên Sắn hiện ra. 
Rõ là già lẩm cẩm.

8/1/2016

Monday, January 4, 2016

Đeo đồng hồ ( chuyện lính)


Trước khi vào bộ đội tôi chưa từng có đồng hồ. Ngày ấy cái cụm từ “đồng hồ Vile bút máy Paker “ là để chỉ những anh nhà khá giả chịu chơi. Cứ ước ao một ngày kia, mình sẽ kiếm ra tiền để có đồng hồ đeo tay. Nghĩ thế trong lòng đã vui phơi phới.

Chiến tranh kéo đi, dọc sự chết chóc cũng đôi khi thấy đồng hồ. Những anh cán bộ có cái poljot kèm theo cái đài con con và súng ngắn ấy là thần tượng chói lọi rồi. Những lúc đánh nhau cũng từng thấy đồng hồ ở xác đối phương nhưng không bao giờ dám lấy. Kỉ luật nặng lắm. Chả chơi.

Ấy thế mà vào những ngày giáp tết năm 1975 mình được đeo đồng hồ cả một tuần. Một tuần ấy thật là tuyệt mặc dù chỉ đi lại trong rừng ém quân bí mật và không hề có một người dân nào nhìn thấy mình đeo đồng hồ rất oách.
Hồi ấy bạn mình Khuất Quang Thuỵ được giải thưởng cả thơ và truyện kí ở chiến trường Tây Nguyên. Mà giải thưởng lại là cái đồng hồ Seiko 555 có kèm theo giấy chứng nhận đeo đồng hồ hẳn hoi. Khuất Quang Thuỵ rất quí mình. Khi cả đơn vị bí mật hành quân về DAK LAK để chuẩn bị đánh điểm A ( Ban Mê Thuột) thì hắn ở gần ngay chỗ mình. Những ngày đầu năm xuân đến, lại nhộn nhịp chiến dịch khiến con người lâng lâng dễ tính hơn hẳn ngày thường. Mình ngỏ lời muốn mượn đồng hồ của bạn đeo mấy hôm để nhỡ có chết cũng đã từng được đeo cái đồng hồ sáng kính coong tư bản. Chắc bạn cũng nghĩ mình ở trinh sát khó qua được chiến dịch này nên đồng ý. Thế là mấy ngày ấy đồng hồ trên tay cả lúc đi đào đá suối lấy cua, đi nhổ môn thục. Dứt khoát mình không bỏ ra lúc nào. Một gia tài lớn mà nhẹ như không trên tay. Rừng cũng sáng hẳn lên. Người ta mạnh vì đạn, bạo vì giầy, còn mình mấy hôm ấy mạnh vì đồng hồ.

Bây giờ cả mình và Khuất Quang Thuỵ chả thằng nào có đồng hồ đeo tay. Nhưng cứ kể chuyện về đồng hồ Khuất Quang Thuỵ sáng mắt lên và bao giờ cũng nhắc lại cái Seiko đã từng cho khối người mượn đeo cho oai. Trong đó có Luân này.

4/1/2015

RAU ĐẮNG CẢY


Mẹ tôi bảo, sinh tôi ra mẹ ăn toàn búp vông và rau đắng cảy với muối nướng. Có nhẽ vì thế nên lớn lên và tới già tôi rất thích ăn của đắng.

Ở đồi trung du quê tôi, cây đắng cảy mọc dại khắp nơi. Lá nó xanh ngắt, xanh hơn những thứ lá cây khác. Mùa xuân trông búp nó non mỡn long lanh sương yêu lắm. Trâu bò cũng kiềng mặt, sâu bọ cũng tránh đường. Chỉ tội kiến đen hay leo lên. Cũng có thể kiến cũng thích vị đắng. Bằng chứng là nếu ta cắn phải con kiến mồm đắng ngắt hăng sè.
Mẹ đi làm vặt nắm rau đắng cảy rồi vẳn vào cạp quần. Hết ngày làm về nhà dỡ ra, những búp đắng cảy đã tai tái. Chiều mùa đông nồi cơm độn sắn vừa ráo nước, mẹ cho nắm rau hấp ở một góc nồi. Cơm chín rau cũng chín. Ở góc hấp rau những miếng sắn và những hạt cơm cũng xanh lè. Mẹ hớt riêng chỗ nhựa xanh lè ra một bát mẹ ăn, còn chỗ khác không đắng dành cho các con. Mình lớn, nên ăn rau đắng chấm muối cùng mẹ. Thức ăn để giành cho năm sáu đứa em. Rau ăn vào miệng đắng ngoét. Nhai một lúc thấy bùi bùi. Nuốt đến đâu cái đắng nhâm nhẩm xuôi vào cổ, đắng xuống bụng và lúc ấy miệng thấy ngọt. Miết rồi ngửi mùi đắng thế mà thành thơm. Mà rõ lạ. Những thứ đắng, chát chua cay không ăn được thì thôi, chứ ăn được dễ nghiện hơn mấy đồ ngon ngọt.
Một hồi các đồi gò quê tôi,hợp tác xã phá sạch để trồng sắn, trồng chè. Sắn và chè nay chả năng suất nữa, người ta lại phục hồi trồng rừng. Những cây đắng cảy ở ven nương, ven đồi lại đua nhau nẩy mầm vào kì sấm dậy. Già rồi, về quê nhìn những cây rau búp xanh mơn mởn, nay xa lạ với dân làng. Tôi hỏi lũ trẻ cây này cây gì? Chúng nó nhỏn nhẻn, chúng cháu đếch biết (!) 
Lâu rồi tôi cũng không ăn rau đắng cảy nữa. Chỉ thích măng đắng. Khổ nỗi đôi chục năm trước, người Hà Nội chưa hề biết thứ măng này. Ấy vậy mà nay vào nhà hàng là cao giọng gọi, măng đắng chấm mẻ chưng nhé! Thế mới sành điệu. Mấy thứ đắng quê tôi nên hương phết.


Có một năm lúc mẹ chưa mất. Vợ chồng tôi về. Bữa cơm chiều lại thấy có nhúm đắng cảy hấp cơm. Vợ tôi sợ mùi đắng hắc từ đĩa rau. Chỉ có tôi và mẹ nhón từng cọng rau chấm muối nướng. Mẹ bảo, thằng bố cả vẫn thích ăn đắng cảy hả? Mẹ nói âu yếm thế mà tự nhiên nước mắt tôi lại chảy .

5/1/2015

Sunday, January 3, 2016

Gọi đò ( Luận của Hồ Tú Bảo )

Có một bài thơ rất nhà quê của tôi và một lời bình của một người bạn chiến đấu nhưng lại đang sống ở xứ xa. Bạn tôi làm nghề Toán học nhưng lại rất giỏi văn . ( lính thành cổ Hồ Tú Bảo - trinh sát F325)
Gọi đò
Nước sông bây giờ cạn thế ? 
Ta về quê cứ ngẩn ngơ 
Bãi giữa bây giờ lều quán 
Nhập nhòe đĩa xóc đêm khuya
Bến đò lom dom gái trẻ 
Bia chai rượu hũ ê hề 
Đò lười ườn lưng nằm ngủ 
Bờ sông mía vẫn trổ cờ
Mảnh vườn nhà em dạo trước 
Nhà ống quay lưng ra sông 
Một thủa chúng mình tíu tít 
Trung thu hát dưới gốc hồng
Em đi mang cả con nước 
Những mùa lũ réo bồi băng 
Mang cả những đêm khuya khoắt 
Gọi đò da diết đêm đông
Sông bây giờ sao cạn thế ?
Ở xa em có biết không ! 
Nước thì lúc trong lúc đục 
Mỗi năm sông lại đổi dòng
Nhớ như ngày nao ríu rít 
Mong đổi dòng về bên kia 
Để mình lội qua bãi cát 
Gọi đò vờ giữa đêm mưa
Đò ơi ! tiếng mình non trẻ 
Lanh canh rơi trên mặt sông 
Sông đầy nên nghe thật rõ 
Bến khuya đom đóm chạnh lòng
Gọi đò vờ từ năm ấy 
Nay hoa râm lại trở về 
Giữa đêm anh gọi đò thật 
Mà chẳng thấy tiếng đò thưa
Anh nép mình trên bến vắng 
Gọi đò như từ cơn mê 
Nước sông bây giờ cạn thế ?
Đò ơi ! con đò ngày xưa
Mùa đông 2013- NTL
tralientay : Gửi Luân
Trên tàu về nhà sau một ngày bận rộn, chẳng muốn làm gì nữa chỉ đọc bài thơ của Luân.
"Gọi đò" là một hoài niệm về ngày xưa, có thật có ảo, có anh có em, một cô gái mờ ẩn nào đấy, nhưng là bạn từ tấm bé. Cô bạn gái giờ đã đi xa, đã "mang cả con nước", mang cả "những mùa lũ réo", "những đêm khuya khoắt", và cả tiếng "gọi đò đêm đông".
Ai đã ở những vùng quê khi sang dòng sông vắt qua làng chỉ có con đò, hẳn đã từng nghe tiếng gọi khuya thao thác "đò ơi!", tiếng gọi đò khuya đầy mong mỏi, khắc khoải và đợi chờ.
Chàng trai trở lại bến xưa ngẩn ngơ vì vật đổi sao rời, thấy "nước sông giờ cạn thế", thấy những thứ xưa không hề có với "nhập nhoè đĩa xóc" và "bia rượu ê hề", lại có "con đò ườn lưng nằm ngủ". Và người xưa đã đi xa. Chàng trai một mình trên bến vẫn thầm thào "ở xa em có biết không?", rồi đơn độc về lại những ngày thơ, chập chờn giữa mơ giữa thực khi mong sông đổi dòng để lội qua được bãi cát bên kia, để "vờ gọi đò giữa đêm mưa". Vờ gọi đò vì dòng đã đổi không cần đò vẫn qua được sông, nhưng vẫn nghe tiếng gọi đò vờ "lanh canh rơi trên mặt sông". Chuyện vờ gọi đò ấy theo chàng trai nhiều năm tháng, để nay tóc đã hoa râm trở về bến xưa gọi đò thật thì "chẳng thấy tiếng đò thưa".
Đọc hết bài thơ thấy xao xác những kỷ niệm xưa đeo đẳng suốt những đời người. Đời người với ai chẳng đầy những hoài niệm, những rung cảm đầu đời chớm nở, những lung linh đã qua không bao giờ có lại.
Và đầy kỷ niệm với ai tuổi thơ qua sông với những con đò.
****
Cám ơn Hồ Tú Bảo đã nhận xét và gửi tôi từ xa

CÒ NGẨN NGƠ BUỒN


Chưa hết tết dương lịch tôi lên xe về Hà Nội. Đường cao tốc cứ bên đông bên vắng. Cánh đồng làng tôi, cánh đồng bên đường xe chạy cũng vắng. Qua mấy ngày mưa rét, nắng ửng lên âm ấm má. Tôi lại thấy đàn cò ngày xưa bay về. Vắng người làm ruộng lũ cò đi ngẩn ngơ. Cò trắng đi đàn, cò lửa lẻ loi ngoài ruộng xa, mấy con cò giang vươn cổ vỗ cánh ra oai với đồng loại vì bộ cánh dài. 
Đồng làng còn ít cua tép lắm. Cò ngẩn ngơ buồn. Những chuyến xe giường nằm bắt khách ngang đường khói phun sà xuống ruộng. Cò nhún chân bay lên, những chấm trắng chấm nâu xa dần.


3/1/2016

Đi khắp làng không còn thấy ruộng mạ nữa

Đi khắp làng không còn thấy ruộng mạ nữa. Bây giờ mạ gieo ở sân nhà, ở góc vườn, trên những cái khay nhựa. Đi cấy thì đứng trên bờ ném ra ruộng. Xong, lên xe máy ù về. 
Mùa xuân chỉ ở chỗ hàng nhậu nơi quán hàng và tá lả. Những vườn mơ vườn mận kém thu nhập người ta chặt hết đi lấy chỗ trồng keo. Những vườn keo xanh ngút. Cao vút và hoa thô sác chả lấy gì làm thơm. Chỉ có con mương nước lạnh lẽo thì vẫn còn , thưa thớt mấy người đàn bàn giặt chiếu giặt chăn đập cái gậy bùm bụp. Vài đứa trẻ ngồi đợi mẹ giặt xong khiêng chăn chiếu về. 
Làng rặt những đàn ông. Hỏi đứa em, sao mà làng mình giờ ít phụ nữ thế? Chú em cười nửa miệng, xong cấy xong gặt là đàn bà bồng biêng nhốc về Hà Nội làm Ô Sin. Hỏi, sao đến nỗi nào mà cả làng đi Ô Sin? Chú em ngước lên nhìn vẻ ngạc nhiên. Ba sào ruộng thu hoạch 4 tạ lúa được mấy tiền hả anh? Không bằng 1 tháng làm Ô Sin Hà Nội. 
À thì ra vậy! Chả phải vì đói mà làm Ô Sin. Đi làm Ô Sin để tăng năng suất nông nghiệp đấy thôi. Cũng tốt cho làng ta. Nhưng phải cái về quê ít đàn bà buồn đáo để


4/1/2016