Monday, December 12, 2016

MẢNH TRĂNG HÌNH TRÁI TIM VỚI TÊN EM

Đêm qua, Giở nhật kí đọc một bài thơ rất cũ từ những ngày đánh giặc ở chiến trường. Buột tay viết:
..."Có một bài thơ rất cũ
Cũ như căn hầm Tây nguyên
 
Có những đêm trăng rất cũ
Chú Cuội chị Hằng còn duyên
Bây giờ trăng không như xưa
Thị thành làm Cuội dối lừa
Làm áo chị Hằng tơi tả
 
Thì tôi lại nhớ ngày xưa".
Đó là một khúc thơ chưa đủ một bài thơ viết tối qua khi đọc lại một bài thơ cũ chiến trường.
NHƯNG CÓ BÀI THƠ RẤT CŨ MÀ ĐỌC LẠI THÌ RẤT MỚI.
Bài thơ ấy viết ở kiềng tăng gia năm 1974. Lúc ấy tôi đã có thâm niên hai năm chiến đấu và tôi cũng đã thành lính cũ. Sau này khi tôi không còn lo sống chết khi tôi có cái ăn và cái mặc cũng chả bao giờ tôi có phút lãng mạn như thế nữa. Thì ra lãng mạn không chỉ dành cho người giàu có người nhiều chữ người thuộc VIP. Lãng mạn là tâm hồn là sự cao thượng của cuộc sống. VÀ, cho tới bây giờ thì tôi nghĩ: Lãng mạn không thuộc về những người nhiều tiền và luôn sống vì danh vọng và cấp chức. Có lúc chợt nghĩ, những kẻ có tiền và người học nhiều chữ quá mụ mẫm đáng thương làm gì còn lãng mạn. Ấy là nỗi khốn khổ của đời
Tôi chép lại bài thơ hơn bốn mươi năm qua tôi viết dưới hầm để các bạn hiểu tôi nói những điều trên. Mà đọc lại thấy mình hồi ấy già hơn bây giờ
MẢNH TRĂNG HÌNH TRÁI TIM VỚI TÊN EM
tặng.....
Trăng lên cao
Rừng lao xao tiếng tâm tình vạn thủa
Hầm chốt có ba người và những mảnh trăng tình tự
Trăng răc vàng lên thảm xanh

Ngồi cảnh giới cửa hầm , mắt nhìn xa đăm đắm
Ai gọi trăng vào giọt trên ba lô một mảnh trăng sáng loáng
Một khoảng nhỏ thôi
Vẫn nhìn rõ tên em để dạ bồi hồi

Nhớ lắm em ơi
Sao có chuyện tình cờ
Trăng chỉ soi vào tên em
Một khoảng sáng hình trái tim xinh xắn

Trong tổ anh có một chiến sĩ
Khoét lỗ thông hơi vô tình hay hữu ý
Một trái tim
 
Còn trăng thì đêm nào cũng thế
Lẻn vào
 
Gọi tên em

Trái tim trăng vàng có tên em
ở hầm anh đêm nào cũng hiện lên rất rõ.

*************
NTL
Một đêm trăng ở kiềng tăng gia Chư Pông 4/1074
Trang đầu của bài thơ cũ
12/12/2016



RỦ NHAU VỀ VỚI 22/12


( lời của hồn chiến sĩ đã hi sinh)
Nào các ban ơi ngã xuống đâu chọn tháng 12
Để có chút cơm có thịt
 
Chúng mình hi sinh lúc giao thừa và cả 2 mùa mưa mùa nắng
Thì cũng rủ nhau về ngày hăm hai tháng cuối năm

Nào những đứa nằm hang khô vách đá âm thầm
Cả những đứa vùi bên bờ sông bờ suối
Nào những đứa ngoài biển khơi cá rỉa xương nước sói
Về đây đi! hương khói chút cũng ấm long

Những đứa nằm trên biên ải sương giăng 
Cả những đội hình hồn vẩn vơ xa xứ
Về đây ta gọi nhau đồng chí
 
Quây quần ngày đồng đội sống liên hoan

Không thuộc nhạc buốt đầu suỳnh suỵch choang choang
Thì cứ hát Trường sơn đưa cánh võng
Thì cứ hát “Vì nhân dân quên mình “ như ngày vào đơn vị
Cần gì đâu thơ nhạc tụng trên đầu

Có ai về rồi, ai ở lại rừng sâu
Hồn điểm danh dài như sông như núi
Thân gái thân trai khói đạn và đất bụi
 
Thương những em chết chẳng kịp chải đầu

Thương các em xa mẹ mới lần đầu 
Luống khoai người trồng chưa kịp dỡ
Người xuống đất khoai đào lên sa sót nhớ
Mùi làng quê thơm nhức nhói nghĩa trang

Về đây đi ! ơi những hương hồn !
Đừng ồn ĩ để mẹ cha mình yên nghỉ
Đừng rộn rĩ để cháu con còn hoan hỉ
nhân danh người chết đi lễ hội bộn bề

Hăm hai tháng 12 này xa lắc thủa ta đi
Rừng Trường sơn đã tan thành gỗ lậu
Thương lắm những trai làng không còn nơi ở đậu
Đất của mình mà hồn vía cứ vẩn vơ

Hồn về đi có đồng đội ngày xưa
Dù chúng nó bạc đầu trơ xương hõm má
Những đứa gọi là “cựu chiến binh” thì còn nhớ
Hồn ơi hồn về với chúng nó hồn ơi
13/12/2016

Wednesday, December 7, 2016

CHUYỆN VẶT ẤU THƠ




1 Mẹ khen
Năm ấy tôi học lớp 5. Mười một tuổi ở quê bé như cái kẹo mút dở thế mà đã là anh cả của 5 anh em. Cha mẹ giàu con có cha mẹ khó con khôn. Mười tuổi tôi biết đơm đo chăn trâu hái củi đào măng và nhất là đánh dậm thì năng khiếu hơn cả. Bé thì bố đan cho cái dậm bé. Nhưng tôi không thích dậm bé cứ vác cái dậm người lớn xuống đầm. Hồi ấy cua cá tôm tép nhiều vô kể. Đỉa cũng nhiều vô kể. Đỉa tôi chả sợ chỉ mấy đứa con gái cùng xóm sợ thôi. Đầm làng tôi rộng mênh mông. Nửa thế kỉ sau tôi vẫn nhớ đầm Hà làng tôi đầy những tóc tiên và hoa trang hoa súng. Những đận sau mưa rào vài ngày nước trong veo tôi hụp xuống nhìn cua bò trên bập bùng tóc tiên đáy nước mà thấy như cảnh trong phim. Thích lắm.
Năm ấy đang nghỉ hè, mẹ nói:
- Thằng cu đánh dậm trữ cua tuần sau mẹ cho đi chợ Yên Bái bán nhãn với mẹ.
Chao ôi là sướng. Nhà cách thị xã Yên Bái 15 cây số nhưng người làng tôi mấy ai đã biết. Tôi nhớ năm ngoái có ông bủ xóm tôi bán 4 gánh củ nâu lấy 2 đồng rưỡi chỉ để đi tàu lên ga Yên Bái ngó nghiêng rồi ngửa cổ uống nước máy công cộng sòi bọt mép rồi về. Chuyện thị xã Yên bái ông ấy kể mấy ngày đi bừa vẫn chưa hết. Thị xã Yên Bái với tôi kì bí như chuyện “Long Hình Quái Khách” và “ Không không nhi” lũ trẻ chúng tôi đang xem. 
Một tuần liền kéo dậm đầy hai vại cua . Cua nhiều quá tôi phải bẻ lá ổi cho vào vại mà nó vẫn chết. Sau một tuần mẹ mới bẻ nhãn thì 4 giỏ cua của tôi chỉ còn hai giỏ. Tôi gánh 2 giỏ cua còn mẹ gánh hai thúng nhãn đi bộ từ 12 giờ đêm. Mẹ con tôi cứ dọc đường tàu hỏa ven đê sông Hồng mà đi. Trăng hạ tuần tháng 7 ấm lịch vằng vặc. Mẹ thấy tôi ngáp ngủ, mẹ kể chuyện cổ tích, mẹ kể chuyện ông beo trong làng. Nghe chuyện beo vồ lợn sợ quá tôi tỉnh ngủ. Mẹ chỉ lên ông trăng bay dọc sông hồng ( chả là đi đến đâu trăng cứ đi theo đấy) mà bảo:
….hăm mốt bằng tai
hăm hai bằng đầu
hăm ba trông thấy 
hăm bốn không thấy đâu
Hỏi mẹ sao lại thế? Mẹ bảo Hăm mốt bằng tai là trăng hai mốt âm lịch xuống ngang tai là sáng bảnh rồi. À ra thế, vậy hôm nay hai mốt trăng vẫn trên đầu còn lâu mới sáng. Mẹ khen , thằng cu giỏi đấy. Trong đêm tôi sướng lắm vì được mẹ khen. Cái chỗ mẹ tôi khen tôi đêm ấy bây giờ tôi vẫn nhớ. Nửa thế kỉ sau mỗi lần về quê qua cầu Văn Phú là tôi nhìn thấy chỗ bờ sông lở lói và lời mẹ âu yếm lại vọng về.


2 ĐĨA CƠM CÀ RI

Để chuẩn bị cho chuyến ra tỉnh bán cua này tôi đã phải sang mượn thằng Vân bạn tôi cái dải dút dây dù bố nó mang về từ Điên Biên phủ. Cái quần đùi nâu mẹ may cho dễ đến vài tháng nay mới dám mặc. Nước nâu mới dấn, cứng ròn đi trong đêm vắng nghe nó cọ vào nhau sột soạt vui tai lắm thích thú lắm. Mơ sáng mẹ con tôi đã vượt qua mười lăm cây số
Đến cổng chợ Thị Xã Yên Bái. Thú thật đến bây giờ tôi cũng không nhớ cái chợ ấy thế nào. Chỉ nhớ nó nằm gần sông Hồng và cái cổng săt khá to. Mẹ con tôi ngồi ngoài cổng một lát có người đàn ông ngáp ngủ ra mở cửa sắt nhìn hai mẹ con tôi bơ phờ mà lẩm bẩm…mẹ nó chợ chưa họp kẻ cắp đã đến. Tôi hỏi mẹ, sao ông Mõ kia lại bảo mẹ và con là kẻ cắp. Mẹ suỵt! đừng nói thế. Tôi hỏi lại mẹ, mẹ vẫn bảo con là không cố học nay mai ra làm mõ quét chợ giống ông mõ chợ Đan Hà nhà mình đó thôi. Mẹ thở dài xỏ đòn gánh gánh nhãn đi vào chợ.
Lần đầu tiên tôi nhìn người kẻ chợ. Chao ôi là chao, họ đẹp hơn người quê tôi mấy lần. Quần đen căng căng, búi tó có, phi dê có, họ nói thánh thót như chim. Dặt những người đi guốc nhọn đít. Còn trẻ con cấm thấy đứa nào đi chân chim như tôi. Bất giác ngó xuống chân mình rồi khoèo gập dấu bàn chân nứt nẻ cổ trâu đen xỉn về phía sau. Tôi ngồi bên mẹ nhìn họ húp bún riêu mà nghe bùng sôi rèo rèo. Người mua nhãn nếm lia nếm lịa. Tôi giật tay mẹ, họ ăn nếm nhiều thế mà họ không mua hả mẹ? Mẹ ừ họ bảo nhãn nhà mình không biết bó buộc cho đẹp. Tại mình cả đấy. Có mấy con bé chừng mười một mười hai tuổi vừa ăn nhãn vừa ném nhau. Ức quá tôi giơ đòn gánh gánh cua dọa. Mày không có tiền đừng có nếm. Chúng nó chun mũi lên cười. Ơ cái thằng nhà quê đen nhẻm này trông hay quá chúng mày ơi. Một lũ trẻ con xúm vào nhao nhao, thằng nhà quê bán cua thằng nhà quê bán cua. Tôi vung cái đòn bằng cây tre con vù vù chúng nó chạy dạt ra . Mẹ vội ôm lấy tôi mà nói, các ông bà tha cho cháu nó dại các ông bà đừng chấp. Nước mắt tôi dòng dòng nhìn mẹ mồ hôi bê bết trên mặt đầy những bụi đường.

Chiều hôm ấy, bán xong cả cua cả nhãn mẹ con tôi ra tàu xuôi về. Mẹ mua cho tôi đĩa cơm 8 hào. Tôi đọc thấy chữ cơm cà ri màu vàng vàng. Mẹ ngồi nhìn tôi ăn, mẹ không ăn. Mẹ bảo thằng cu ăn thừa thì mẹ ăn. Thế là hai mẹ con ăn một đĩa cơm thôi. Nghe mẹ vừa ăn vừa nói, khiếp đĩa cơm hết 4 cân nhãn lồng.
Năm mươi năm nay tôi không bao giờ ăn thứ cơm ca ri ấy mặc dù tôi gặp nó hàng ngày. Tôi sợ cái nỗi buồn mẹ con tôi đi ra tỉnh bán cua ngaỳ nào. 
Năm mươi năm nay khi tôi đã nhiều năm làm giám đốc tôi cũng chưa một lần mua được cho mẹ một đĩa cơm Cà Ri như ngày xưa.

7/12/16 

BÀI THƠ VỀ " THÁNG CHIẾN BINH"




( Lại sắp tới ngày 22/12)
Sao cứ mỗi tháng chạp về là nhớ
Mỗi tháng là đầy thêm kí ức bạn bè
Bạn thương binh ở quê dần đi cả
Bạn thị thành đi xe buýt lơ ngơ

Năm trước nữa gặp nhau ồn ã
Hỏi thăm nhau nước mắt trụt trồi
Những trận đánh những là lửa khói
Trận đánh nào cũng có nước mắt rơi

Nước mắt trẻ trong veo nước mắt già đùng đục
Tiếng nấc ở trong tim tiếng hừng hực thằng người
Những tiếng nấc mẹ cha không bao giờ thấy
Chỉ những thằng lính chiến biết thôi

Sao ta nhớ tháng 12 đến thế
Miếng thịt " hăm hai" mong đến cháy cả lòng
Giờ ra ngõ đã ê hề thịt cá
Bạn ngã rồi cơm nắm kịp ăn không?

Lại chúc tụng lại mít tinh tay vỗ vỗ
Tháng 12 này xe ai đến nghĩa trang?
Thôi thì yếu. Lạnh đừng ra ngoài gió
Ngồi giở những lá thư mờ nước mắt chiến trường
Đừng vội nói chúng tôi ăn mày dĩ vãng
Dĩ vãng của chúng tôi là máu đất nước này
Tôi dậy con mình trong mỗi ngày khó nhọc
Bố con mình cũng chỉ kẻ ăn vay

Thơ với nhạc chứa làm sao cho đủ
Ân nghĩa nào để trả “tháng chiến binh”
Ai ăn mày ở đâu tôi chả biết
Dĩ vãng là xương là máu của chính mình

7/12/2016

Tôi đọc “Rừng đói “ của tác giả NguyễnTrọng Luân ( Võ thị ánh Tuyết )


( RỪNG ĐÓI- Nguyễn Trọng Luân NXB HNV - 2016)
Tiểu thuyết là một thể loại văn xuôi có hư cấu, thông qua nhân vật, hoàn cảnh, sự việc để phản ánh bức tranh xã hội rộng lớn và những vấn đề của cuộc sống con người, biểu hiện tính chất tường thuật, tính chất kể chuyện bằng ngôn ngữ văn xuôi theo những chủ đề xác định. Nhân vật của tiểu thuyết là cái cốt lõi duy nhất, làm nên những cái tôi bản thể người, là cốt lõi xuyên suốt toàn bộ cơ cấu nội tại của cuốn tiểu thuyết.Vậy thì tiểu thuyết Rừng đói của anh Nguyễn Trọng Luân thì sao ?
Lần đầu tiên tôi được đọc một cuốn tiểu thuyết phi hư cấu. Có nghĩa là tác giả đã viết một tiểu thuyết không giống tiểu thuyết nhưng đọc xong rồi thì lại thấy đây là một tiểu thuyết thật sự nhẹ nhàng, không nặng nề như người ta tưởng. Xưa nay chuẩn bị đọc một tiểu thuyết đã có cảm giác tò mò bởi ta sẽ lâm vào mê trận chữ nghĩa, rối rắm tình tiết và sự phức tạp “tình hình” đến nỗi “rất tình hình” . Nhưng không. Đây là chuyện anh kể, kể không cần viết thêm, anh chỉ sắp xếp văn chương thôi. Mọi lời kể từ trong chính cuộc đời lính trận của anh và bạn bè sinh viên ra trận cùng thời,giống như người không viết ra không được. Đó còn là lời của một thế hệ tài hoa ra trận, thế hệ sinh viên từ các giảng đường đi về phía súng nổ, có người may mắn trở về như anh, còn bao đồng đội mãi mãi tuổi đôi mươi trên các vạt rừng hay dòng sông, cửa biển. Đọc Rừng Đói, ta hình dung của nả trong chiếc ba lô lép kẹp thấm máu ấy là rất nhiều, là vô giá. Anh từng nói “ Tôi viết không phải là văn cho tôi mà là lời đồng đội đã hi sinh bảo tôi viết thế “
Ngay những ngày đầu tiên của lính, các anh đã hiểu qui luật nghiệt ngã của chiến trường. Đó là rất đơn giản khi đi vào cái chết: “ Mỗi đại đội hơn trăm lính mà chỉ có một tờ giấy phê đúp trích ngang. Sinh mạng nguồn gốc một con người,chỉ đọc chưa hết 5 giây đồng hồ. Sự làm cách mạng đơn giản đến thế là cùng Chỉ vài dòng ngắn ngủi thế thôi là chúng tôi đi vào máu lửa và có thể hy sinh “ ( Tr.7 )
Chiến tranh tàn khốc là thế mà các anh bước vào nhẹ tênh
“Lính chúng tôi như thấy mình đã bước bước sang một trang sách mới. Giản đơn, ít chữ dễ hiểu và hiểu là bây giờ cúng tôi đang tiến tới đoạn có thể sắp chết, rất dễ chết “ ( Tr.11). Đến nỗi rút kinh nghiệm cũng “ “ rút kinh nghiệm khẩn trương “ ( Tr.49 ). Đó là những ngày đầu tiên dấn thân vào trận chiến vĩ đại có một không hai trong lịch sử loài người để dành lại một nước Việt Nam hoàn toàn thống nhất. Những ngày đầu tiên xa rời vòng tay mẹ, xa mái trường đại học thân yêu. Những con chữ chân thật và bình dị đến nhường nào,nhưng chắc là không ít người cầm được nước mắt khi đọc nó.
Không có một tiếng súng, nhưng bạn đọc sẽ thấy cái ác liệt của chiến tranh đang treo ở trên đầu từng giờ từng phút . “ Anh em đánh nhau không có gạo, nên 500 chú lính sinh viên này sẽ đi sang bên kia biên giới mót sắn gửi về nhà cho các đơn vị đang tác chiến ăn mà đánh nhau “( Tr.15) Và rồi chính cái đơn vị đi đào bới cái ăn lại “ Đói mê mẩn, đói bền bỉ. Đến rừng cũng đói “.( Tr.15) . Lính trận nhưng ở tuổi hai mươi, ai cũng nhớ mẹ, nhớ bạn gái, gọi mẹ, gọi cha “Mẹ nói đúng quá, một chiều dài quốc gia, toàn những thanh niên chưa kịp lớn đã nghĩ tới hy sinh, đã biết làm quen với cái chết, cái khổ. Chết mà chưa biết đến nụ hôn con gái “ (Tr. 14)
“ Tôi nằm trên võng, nghe hai thằng nó nói chuyện với nhau mà nhớ cha mẹ mình quá. Tháng này ở ngoài Bắc cũng đang đói giáp hạt.”
Bạn đọc có thấy thương các anh ấy đến tột cùng không ? Các anh ấy là những đứa con thương yêu, là núm ruột là con trai thừa tự của các bà mẹ.. Những người phụ nữ trong cuộc đời của các anh cứ luôn hiện diện trong từng bước hành quân và là động lực, là nguồn sống để chiến đấu và sống sót trở về. Có những tình yêu trai trẻ, thanh tân “ Thằng Sỹ còn moi trong ba lô ra cho mình xem một mớ tóc con gái. Nó ngửi, nó hít mớ tóc buộc bằng sợi len đỏ rồi bảo, mỗi thứ tóc có một mùi riêng. Đó gọi là mùi đặc trưng “ ( Tr.21 )Cái tình yêu vừa mới nảy nở của những chàng trai mới lớn thật dễ thương. Nó trong sáng lãng mạn và thăng hoa trong cả lúc cái đói và cái chết cận kề .
Anh kể chuyện lính, thật mà như đùa. Vô tư cho mình mà lại ưu tư cho người khác
“ Dép đồng chí đâu? Tôi tặng cho bố tôi rồi. Bố tôi cho hẳn một đứa con trai đi theo quân đội đánh giặc còn chả tiếc, mà quân đội lại tiếc bố tôi đôi dép” ( Tr.25) .
Có phải đây là cái tôi của lính không nhỉ? Kính trọng biết bao cái tôi ấy. Cái tôi đã làm nên cái tôi của một Việt Nam nhỏ bé mà anh dũng ở thế kỷ 20. Đó là Trí, Lễ, Nhân,Nghĩa, Trung, Tín đã hình thành từ một nền văn hóa và lịch sử Việt Nam từ 2000 năm trước, dù ai đó muốn lãng quên, chôn nó đi, thì trong lòng đất, nó vẫn trầm tích và âm ỉ mãi ngàn năm.
Những mẫu chuyện của anh ngắn gọn, nhưng đều có suy lí rõ ràng, rất lính, có nghĩa là rất đơn giản và sâu sắc. Cái hay của lớp người sinh viên ra trận là những suy lí rất rõ rêt trong mỗi cách hành xử và mỗi cách xông lên trước kẻ thù.
Cái Trí của sinh viên nó thông minh, lanh lợi biết chừng nào “ cách mạng đâu chỉ cần lòng dũng cảm mà còn cần cả trí thông minh nữa… sen đầm hay sen hồ…đánh bỏ mẹ nó…”
Cái Nghĩa ở đây cũng là nghĩa đồng đội, nghĩa tử là nghĩa tận. “ Thằng Khoái sắp chết rồi, Nó bị ác tính đái ra máu mà lại đang tỉnh nữa là chết đấy…”. Những người lính ấy biết đồng đội mình sắp chết , thương quá, vừa khóc vừa đi bắn thú mang về nấu cháo để bạn có thế ăn được miếng thịt rồi hãy chết…Đau xót quá.
Cái Trung nó thể hiện rất sinh viên và hãnh tiến cách mạng :” ‘Đói cơm đói thuốc đói thư.Bao nhiêu cái đói không hư được mình “ ( Tr.121). Các anh chẳng nói những câu cách mạng sáo rỗng, những triết lý suông mà người ta vẫn thường nói. Các anh nói những câu rất ngắn và dễ hiểu và cách mạng là thế đó và trung với nước là thế đó, là giữ cho mình luôn luôn không hư hỏng để chờ đến ngày đi chiến đấu, là vượt qua cái đói để có ngày hy sinh cho tổ quốc vinh quang. Cái Trung của các anh không màng đến hư danh, quyền lợi và địa vị, tiền bạc. cái Trung ấy nó hiển nhiên, nó lạc quan đến nhường nào “ Đỉnh đèo trời hoá mông mênh/ Chùm phong lan toả hương lành trong mây/ hành quân chiến dịch qua đây Giải lao mươi phút cũng say thuốc Lào/ Thấy rừng cây đổ lao đao/ Chuỗi cười đồng đội bay vào trời xanh.(Tr. 122 )
Cái chân lý cuộc sống của các anh thật đơn giản mà cao cả, thât dung dị mà siêu phàm. “ Đêm ấy là đêm cuối cùng chúng tôi ngủ trên đất bạn và hình dung ra vùng đất mà mình sẽ đến và nổ súng. Bao giờ cũng thế, chúng tôi lại nhớ đến Mẹ. Đứa nào cũng mong khi nào có địa chỉ sẽ viết thư cho Mẹ, cho người yêu. Chắc chắn sẽ chẳng đứa nào kể về chuyện đói, kể về những tháng ngày đã qua, những người lính sinh viên trong khu rừng này. “. Chẳng bao giờ muốn cho những người phụ nữ của mình lo lắng mặc dù thương yêu đến thế, nhớ nhung đến thế. Ôi những người lính sinh viên! Các anh chẳng phải là những người hùng chân đồng da sắt, các anh là những con người, chảy dòng máu của mẹ đã cho và có trái tim thương yêu Mẹ, yêu những cô gái ở hậu phương đợi chờ. Cái chân lý thật kiên cường, đã đi là đến, đã đánh là thắng, nó soi rọi mọi thời đại mà chúng ta đang sống, nó mang tầm vóc của ngàn năm cha ông đánh giặc.
Đọc Rừng đói, cứ như là hôm nay trong cuộc pích ních về nguồn vừa đi vừa kể của Nguyễn Trọng Luân mà bạn đọc lại thấy cái ác liệt của chiến tranh trên đầu những chàng sinh viên. Cái đói của lính trận “ Cũng hiếm có một tiểu đoàn nào như tiểu đoàn chúng tôi vào đến chiến trường đi mót sắn, để rồi mang sắn khô ấy về ăn mà đi đánh nhau “ ( Tr.166) .Nếu như có bạn đọc nào đói thì hãy so sánh mình với những người lính trận này, để hiểu thực sự và tận cùng của cái đói.
Chẳng có gì hay hơn , nhân văn hơn cho thế hệ thanh niên Việt Nam bây giờ là đọc nó. Tính giáo dục sẽ cao hơn rất nhiều lần các bài giảng giáo điều trong sách vở đã soạn sẵn trong giáo án của các thầy cô. Để làm một con người, phải có Trí, Nhân, Lễ, Nghĩa, Trung, Tín. Đó là một bộ khuy áo trong một chiếc áo của con người. Dù vải vóc và kiểu áo có đẹp, có mốt đến đâu mà không có bộ khuy áo cài vào thì cũng không thể nào có dáng dấp một con người tử tế, đứng đắn, chứ chưa nói đến một người tốt. Văn của anh giản dị và đẹp như những cánh rừng mà các anh đã đi qua dù đó là rừng đói. Chất sinh viên trong sáng, thoáng đãng như mùi quả Gùi thơm và chùm Phong Lan nơi bãi khách có trung đội nữ Quảng Nam đêm qua vương lại. Văn của anh nhẹ tênh mà rưng rưng diễn tả suy nghĩ về đất mẹ. Cảm động làm sao khi chàng sinh viên tên Thọ Văn Giang nói rằng :” Nếu bây giờ trúng đạn, tao cũng sẽ cố lội qua sông sang đất Việt Nam mà chết” . Các anh nghĩ về tổ quốc đơn giản như làn khói đốt nương và mùi rừng của quê mình.
Đọc Rừng đói tôi chợt nhận ra những điều chân lí vô cùng đơn giản mà tác giả đã lí giải. Thực ra tôi nghĩ tác giả không lí giải cái gì, mà anh ấy tự kể ra những giản đơn tột cùng trước cái gian khổ hi sinh đó thôi. Người trong cuộc nói bao giờ cũng khác người ngoài cuộc nhìn vào đó mà tô vẽ mà phức tạp hóa vấn đề. 
Là một Học Sinh Miền Nam học trên miền Bắc, tôi vô cùng xúc động khi anh viết về những người HSMN đang đại học lại cùng anh ra trận. Tôi không biết anh Tiến anh Pơn mà anh NTL kể nhưng tôi nghĩ những người bạn HSMN của tôi ra trận ngày ấy cũng là những học sinh ưu tú và rất nhân hậu. Nhân hậu như lời hai bạn HSMN đó nói với tác giả:
“ Tiến và Pơn nắm tay tôi mà nói giọng nghèn nghẹn: 
- Có thể chả bao giờ bọn mình gặp nhau nữa. Mày sống và trở về nhé, Những người bạn Trường Sơn chỉ là số ít trong số bạn bè cả một đời. Nhưng có phải ai cũng có bạn Trường Sơn đâu mày nhỉ. Chắc sắp hết đói rồi. Đừng để cái đói nó làm tầm thường những sinh viên miền Bắc nghe mày.” ( trang154)
Điều cần nói nữa ở đây về cách xưng hô của lính trong cuốn sách này. Tôi thường thấy trong các tiểu thuyết về chiến trận những cụm từ đồng chí, anh tôi …ở đây cuộc sống ngoài đời thế nào, văn chương của anh như thế. Tôi không muốn nói là tác giả dễ dãi mà tôi thấy tác giả là con người đáng quí. Quí ở chỗ anh là người thực chứ không phải người viết văn. Quí ở những người đồng đội chân thành cao thượng với nhau không chỉ bằng lời nói.
Những trang cuối cùng là tác giả viết ra tên của những nhân vật của mình, họ còn sống hay đã hy sinh, sau chiến tranh làm gì và hiện đang ở đâu.
Chẳng còn nghi ngờ gì nữa, cuốn tiểu thuyết kết thúc với những nhân vật có thật, câu chuyện thật đến 100%.
Cảm động lắm khi đọc đến những cái tên Khuất Duy Hoan, Đinh Ngọc Sỹ, Nguyễn văn Lệ, Đặng Quang Trung, Hoàng Minh Dương, Vũ Quyền … mà tôi chưa quen biết. Các anh khiêm nhường và hiền lành trong cuộc đời này nhưng nhờ có Rừng Đói mà chúng tôi biết tới một quá khứ hào hùng các anh đã trải qua. 
Những cái tên như Lương Văn Lợi, Trần Văn Lịch, Nguyễn văn Huấn, Triệu Liên Hiệp… đã không về nhưng hình như tôi và bạn đọc qua trang viết của tác giả NTL lại thấy vô cùng thân thương như mình đã gặp ở đâu đây.

Cám ơn các anh, những chàng trai mười tám hai mươi ấy đã sống đúng nghĩa tuổi thanh xuân của mình mà không hổ thẹn với non sông đất nước. Cám ơn những người mẹ Việt Nam đã sinh ra, nuôi dạy và dứt ruột,trao các anh cho Tổ quốc, rồi hy sinh bảo vệ tổ quốc. Dù chẳng để được tấm bằng khen hay huân huy chương nào, nhưng chúng tôi gọi các mẹ là những người mẹ Việt Nam Anh hùng. Chúng tôi thật ngưỡng mộ những người lính tài hoa đã có những người mẹ cần lao gian khổ, hết mực thương yêu con mình nhưng đã biết hi sinh núm ruột của mình cho tổ quốc.
Cảm ơn tác giả Rừng đói. Dù anh không phải là nhà văn, anh chỉ là người lính nhưng là người lính trong thế hệ những người lính cụ Hồ, đã viết thay lời đồng đội, nói về những ngày tháng mình đã sống và chiến đấu. Tác phẩm của anh không còn nằm trong ý nghĩa ngợi ca hay phê phán thông thường cuộc chiến tranh như nhiều cuốn tiểu thuyết khác đã nêu ra. Rừng Đói là tâm tình của người trong cuộc, của những người yêu đời, yêu học hành, yêu tuổi trẻ của mình, các anh đã nói về một thời đại anh hùng mà các anh đã sống và chiến đấu, đó là thế kỷ hai mươi và Việt Nam là một điểm sáng nhất , một mốc son đỏ tươi mà các anh đã dùng máu mình để viết nên nó Chúng tôi những người bạn học cùng thời các anh và cả con cháu chúng tôi vô cùng ngưỡng mộ các anh.

Đọc Rừng đói, những giá trị nhân văn của những người không cầm súng như chúng tôi và con cháu chúng tôi, giá trị nhân văn ấy đang tiềm ẩn trong mỗi con người, bỗng nhiên bật lên những chồi non xanh biếc, yêu thương và tự hào về thế hệ cha anh, tự hào rằng đã có một Việt Nam kiên cường như thế, đã có một thế hệ tinh hoa như thế ra trận không tiếc máu xương và hiểu rằng mình phải sống sao cho tốt hơn và tử tế hơn.
30/11/2016

RỪNG ĐÓI - TRUYỆN HAY ĐỘC ĐÁO KHÔNG CẦN BỊA ( SƯƠNG NGUYỆT MINH )


(Nhân đọc tiểu thuyết Rừng đói của Nguyễn Trọng Luân, NXB Hội Nhà Văn, năm 2016)

Nhà văn Sương Nguyệt Minh

Văn chương cốt lấy sự hay, không nệ thể loại “sang”, “thường”, không so đề tài lớn nhỏ. Một câu thơ hay còn hơn một trường ca làng nhàng. Một quyển hồi ký hấp dẫn còn hơn trường thiên tiểu thuyết hư cấu tồi. Có một sự trở lại của dòng tác phẩm phi hư cấu - tiểu thuyết tư liệu đang được bạn đọc quan tâm chào đón với niềm say mê thích thú. Sau những tác phẩm phi hư cấu “Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75” của Trần Mai Hạnh, Hồi ức lính của Vũ Công Chiến, Quân khu Nam Đồng của Bình Ca... là tiểu thuyết Rừng đói của Nguyễn Trọng Luân. Xuất bản từng bừng, người đọc nồng nhiệt, điều đó thêm một lần minh chứng: Sự lên ngôi của thể loại văn phi hư cấu.

Nhà phê bình văn học Huỳnh Như Phương viết rằng: “Sức hấp dẫn mà văn xuôi phi hư cấu đem lại chính là sức hấp dẫn của sự thật”. Sự thật chính là “chân” trong tiêu chí chân – thiện – mỹ của văn chương. Nhà văn Nguyễn Trọng Luân vốn là sinh viên cơ điện, nhập vai trần thuật, cũng là người trong cuộc, can dự vào những năm tháng Rừng đói. Câu chuyện ông Luân kể là các sự kiện, tình huống, không gian, nhân vật có thật, thời gian trôi như bóng câu qua cửa sổ người đã chết song cũng nhiều người đang còn sống hôm nay. Có thể nói quyền lực của Rừng đói là sức mạnh của sự thật hấp dẫn.
Người viết văn giỏi thì dựng, người viết hồn nhiên thì kể. Có người kể vô duyên, có người kể hấp dẫn, quyến rũ người đọc. Nguyễn Trọng Luân là người kể có duyên, có giọng riêng đầm ấm, lúc xót xa buốt giá, khi tưng tửng đùa cợt: Một tiểu đoàn gồm 4 đại đội sinh viên. Sinh viên Bách khoa, Mỏ địa chất, Y khoa, Nông nghiệp, Cơ điện,... hành quân 3 tháng vượt Trường Sơn vào tận chiến trường. Điều đặc biệt là không phải đánh nhau, tiểu đoàn sinh viên lãng mạn, mơ mộng này sang đất Căm Pu Chia, chỉ làm một việc là mót sắn, gùi về nước tăng khẩu phần lương thực cho sư đoàn hàng ngàn quân ăn như tằm ăn dỗi, và đánh giặc. Định mức 25kg sắn một ngày, thái lát, phơi khô. Những chuyện đói khát, ăn mặc rách rưới, lính trẻ tếu táo, tâm trạng buồn vui, ước mơ, khát khao một mùi hương con gái, sốt rét ác tính, chết chóc, thương vong... đều diễn ra tại đây. Chiến trường không có tiếng súng, đạn nổ, bom rơi, chiến hào lở loét, vết thương bầm rập..., nhưng nhà văn Nguyễn Trọng Luân đã làm được một việc kỳ tài là chỉ bằng Rừng đói ông cũng dựng lên cuộc chiến tranh khốc liệt của riêng ông, của những người lính như ông, và cả những bạn đọc như tôi.
Không thể tưởng tượng thời ấy người lính ra trận, vào chiến trường đánh giặc lại đơn giản đến mức: “Mỗi đại đội hơn trăm lính mà chỉ có một tờ giấy phê đúp ghi trích ngang. Sinh mạng nguồn gốc một con người đọc chỉ chưa hết 5 giây đồng hồ... Người sĩ quan nhận quân gấp cẩn thận mảnh giấy đút vào túi mìn Mo, vỗ vỗ mấy cái như an ủi hơn trăm mạng người yên tâm yên tâm mà chiến đấu”. Giá mà thời ấy, trên cổ mỗi người lính có thêm một thẻ bài bằng in nốc, to chỉ như đầu ngón chân cái, ghi số lính vào thì sau chiến tranh đã nhẹ bớt nước mắt trong những cuộc tìm kiếm trùng trùng gian nan. Rừng đói không chỉ thuộc về những người lính sinh viên mót sắn mà cả những người lính gái học hành dở dang, nhảy núi, xung vào đội quân gùi thồ phục vụ chiến trường. Có trăm ngàn nỗi sợ hãi, nhưng hãi sợ của người lính gái bao giờ cũng ngờm ngợp, thấp thỏm, đáng thương hơn. Người lính sinh viên trai tráng lặng người khi nghe nữ trung đội trưởng gùi thồ tâm sự thế này: “Hai tháng, B em chả đứa nào thấy hành kinh. Chúng nó khóc tu tu. Chúng nó sợ mất cái đàn bà. Em nói, tao đây nè bốn tháng nay cũng chả có hột kinh nào...”. Sợ chết bom đạn đã đành, còn sợ cả mất thuộc tính đàn bà con gái.
Không thể tưởng tượng nổi tiểu đoàn lính sinh viên đi mót sắn ở chiến trường khốc liệt, nhưng họ cũng bị đói. Đói cơm. Đói rau. Đói thịt. Đói cá. Đói không có chất béo chất đạm, nên mồ hôi người lính cũng không mặn, nước đái không khai. Ăn canh mộc nhĩ, bụng sôi èo èo. Tiêu chuẩn một lạng gạo, một ngày, gùi vài chục cân sắn, đi về vài chục cây số, dạ dày teo tóp, mặt xanh nanh vàng, chân run, mắt hoa. Đói, người lính trẻ chỉ nghĩ đến việc đi kiếm ăn, có cái gì ăn được là cho vào miệng để tồn tại, để sống mà trở về... với bố mẹ, quê hương: Bắn sóc, đánh cá bằng lựu đạn, lấy mật ong, ăn búng báng, lá bứa, cháo môn thục... Ở Rừng đói, người lính sốt rét... đái ra máu mà lại tỉnh là... sắp chết. Nguyễn Trọng Luân có những đoạn viết về tình cảm đồng đội lúc hiểm nghèo rất quặn thắt, buốt giá. Ông kể về anh lính sinh viên Đinh Ngọc Sỹ ngửa mặt lên giời, nước mắt ròng ròng, kêu than trong bất lực, tuyệt vọng: “Ối ông giời ơi thương thằng Khoái với, cho chúng con bắn được con thú rừng cho nó miếng thịt để nó đi.” Đêm, người lính bắn được thú rừng thật. Con mang bị vặt lông, nấu cháo. Mừng rỡ, bưng cháo thịt nóng hổi đến cho Khoái ăn thì anh đã chết. Chết vì sốt rét ác tính. Chết vì bụng lép kẹp đói. Đêm ấy, dù đói những người lại không ai nuốt nổi. Cháo mang còn nguyên, ê hề. Ai cũng “no”. Chỉ rừng đói.
Thủ pháp viết Rừng đói rất thật, chỉ là “kể nội dung”. Kể. Thì thầm kể. Xót xa kể. Quặn thắt kể. Cười cợt kể. Chỉ kể mà dẫn dụ được người đọc đi từ trang đầu tiên đến trang cuối cùng, không bỏ sách. Nguyễn Trọng Luân kể về những người lính càng vào sâu chiến trường, các binh trạm càng nghèo và đói. Đói. Không còn chuyện nhổ một gốc sắn trồng năm hốc ở rừng Trường Sơn cho người đi sau thu hoạch. Vậy là người lính phải đi ăn trộm, ăn trộm sắn của đơn vị bạn. Rồi bị bắt, quân ta bắt quân mình, và cãi, cãi lý sự lấy được, chứ không ngang ngạnh: “Tôi lấy trộm sắn ăn để làm cách mạng, chứ tôi có mang về quê cho nhà mình đâu mà phải xấu hổ. Mà cần gì phải xấu hổ?” Rồi nhìn nhau, cả một lũ lính đen đủi, gầy rạc. Rồi phàn nàn, ăn trộm thì ăn trộm ít thôi, để chúng tôi còn cái ăn với chứ. Đúng là “ốc không mang nổi mình ốc”, sao phải mang cọc cho rêu. Kẻ ăn trộm, người đi bắt... chia tay nhau, xót xa. Kẻ ăn trộm se sắt tiễn người đi bắt rồi “nhìn thấy cái miếng vá ở hai mông quần anh sĩ quan đeo súng ngắn to như quyển sách vàng khè màu đất ba zan mở ra lại đóng vào”. Thương quá! Và cả cười ra nước mắt. Có lẽ câu chuyện này ở Rừng đói là một hiện thực lạ lùng độc đáo chưa bao giờ có ở quân đội các quốc gia khác?
Trong tiểu thuyết Rừng đói, hiện thực chiến trường bầy ra đến trần trụi khó tin: Cả đoàn gùi sắn hơn 50 lính cởi quần vượt sông. Một hàng dài tồng ngồng, rồi gặp máy bay trinh sát L19. Tồng ngồng chạy. Tồng ngồng trút gùi sắn xuống kho. Lại có cả 1 đại đội đi săn. Săn cá. Săn thú... để lấy thịt tươi bồi dưỡng thương binh nặng. Rừng cũng là nhà. Gần gũi. Tự nhiên,... những người lính ở đó10 năm, tất cả đều đóng khố. Đóng khố... đi săn. Lính trẻ bây giờ - thời quân đội chính quy hiện đại, tác chiến hợp đồng quân binh chủng mà đọc, mà nghe có thể nghĩ là chuyện đường rừng, chuyện phiêu lưu ký. Tin làm sao được khi người lính ở Rừng đói phải làm cả chuyện vá may đồ lót con gái. Anh lính trẻ sinh viên Khuất Duy Hoan và Nguyễn Trọng Luân lóng ngóng phá cái mũ tai bèo ra để làm một việc có một không hai: khâu thành cái... cooc xê. Đường kim mũi chỉ lóng ngóng, vụng về cũng làm ra hai cái “nón”, với dây nhằng nhợ “chế tạo cái quang treo vú đàn bà”. Vậy mà, trầm trồ, tâm đắc, hân hoan: “Quan trọng nhất là hai quả núi nhọn và cứng như mo thì chỉ hai đường khâu là xong. Lằng nhằng nhất là cái dây quai và làm khuy áo. Cầm cái cooc xê màu cỏ úa vừa làm xong, hai thằng tôi phá lên cười”. Thế mà mang vào bản người dân tộc cũng đổi được con gà to bằng con quạ. Mấy anh lính trẻ vá may ấy tiếc hùi hụi, giá như khâu thêm mấy cái tua rua màu xanh đỏ nữa thì đổi được con gà to bằng cái chõ xôi. Có đời lính tráng nào sinh động hơn thế này không?
Thống tướng Douglas MacArthur nói rằng: “Người lính là người cầu nguyện cho hòa bình nhiều hơn bất cứ ai; bởi chính người lính là người phải chịu đựng và mang những vết thương và sẹo chiến tranh nặng nề nhất”. Rừng đói, nhưng còn cả rừng cười, rừng triết lý về cuộc sống, về chiến tranh, hòa bình của người lính. Hành trang ra trận của người lính không chỉ là lý tường, quê hương, gia đình dòng họ, súng đạn, ba lô tư trang... mà còn cả ảnh các mỹ nhân Hà Nội: Ái Vân, Thu Hiền, Thanh Loan... Đó là loại ảnh nghệ thuật của các ngôi sao, người đẹp bán lưu niệm ở Bờ Hồ. Không thể diễn tả hết tâm trạng, trái tim phập phồng xao xuyến của người lính trẻ có ảnh người đẹp thường trực trong ngực áo. Nhưng rồi ở chiến trường đói quá, “đói ăn đầu gối phải bò”, “cái khó ló cái khôn”, ảnh các người đẹp cũng lần lượt bị quy đổi ra gạo rau, ra gà ngan, để bồi dưỡng cho những người lính bị sốt rét ác tính có nguy cơ tử vong. Cái cách cắt mũ tai bèo, may vá cooc xê, đánh tú lơ khơ “ăn” ảnh người đẹp, để đem đi đổi lương thực, thực phẩm đều là những chuyện lạ lùng, độc đáo. 
Lính mới thì dù ít học hay sinh viên lắm chữ cũng vô tư, hồn nhiên, nghịch ngợm, tếu táo. Song con mắt lính sinh viên đại học bao giờ cũng phán xét, khái quát, và phản biện khắt khe hơn. Dưới ngòi bút Nguyễn Trọng Luân, các gương mặt quân nhân hiện lên rất độc sáng, đầy cá tính: Có anh đại đội trưởng tên là Nhất nhầm Từ Hải chết đứng sang Hồ Tôn Hiến đứng như trời trồng. Anh là týp người thô mộc, bụng dạ thẳng ruột ngựa, bảo chiến sĩ của mình là “ăn hết quần áo lót”. Có chiến sĩ Quyết kiên quyết thản nhiên cãi lại: “Tôi không ăn quần lót mà tôi ăn sắn và rau, bằng cách đem quần lót đổi cho dân bản đấy ạ”. Ăn cần thiết hơn mặc. Mặc quần dài, không quần lót, tồng ngồng cũng chẳng sao. Có người lính lý sự khi cán bộ chỉ huy truy vấn “Dép đồng chí đâu?”; “Tôi tặng cho bố tôi rồi. Bố tôi cho hẳn một đứa con trai đi theo quân đội đánh giặc còn chả tiếc, mà quân đội lại tiếc bố tôi đôi dép”. Có những người lính lâu ngày sống, hành quân, gùi sắn chỉ đàn ông với đàn ông, bỗng nhìn thấy “mấy cô gái ở trần đi nương, cặp vú nghênh ngang nâu sẫm” khiến cái sống lưng tê tê; thấy các cô gái “đeo gùi leo dốc mà mông cứ cong tớn lên, những đường cong hoang dại” khiến “mấy thằng tôi” cũng bước thấp bước cao vấp... tụt dép”. Có chàng lính sinh viên y khoa “moi trong túi cóc ba lô ra một mớ tóc con gái...ngửi,... hít hít mớ tóc buộc bằng sợi len đỏ rồi bảo, mỗi thứ tóc có một mùi riêng..., mùi đặc trưng”. Khao khát cuộc sống đời thường, mong muốn được sống yên ổn, ngay cả ở nơi Rừng đói. Chỉ có người trần thuật tinh tường, phán xét thông minh Nguyễn Trọng Luân thì bức tranh hiện thực mới cụ thể, rõ nét, sinh động như thế. Dù đầu óc có phiêu bồng, bay bổng đến đâu cũng không tưởng tượng hư cấu nổi, ở trong cuộc mới viết ra chân thực như nghe được từng hơi thở, như chạm tay thấy da thịt ấm nóng,... đến vậy.
Người viết muốn kể hay thì tầm nhìn phải xa, rộng, tường minh. Nhà văn Nguyễn Trọng Luân có những quan sát rất kỹ, tinh tế: “Lính Sư Phạm nào trong ba lô cũng có nhiều ảnh bạn gái. Rất nhiều thằng có cả mớ tóc buộc bằng những sợi len đỏ ướp hoa Ngọc Lan khô ngăng ngắc mà vẫn thơm”, hoặc “... về đường tán gái thì bọn lính Cơ điện và Mỏ Địa chất chúng tôi gọi bọn nó là cụ”. “Cụ” là đám lính Sư Phạm và Nông nghiệp đấy. Ngôn ngữ lính tráng trẻ trung, tán tỉnh, cười cợt. Chỉ có từ “ục” mà tếu táo ghép bao nhiêu từ mới trên đường hành quân. Cái cảnh lính trẻ giễu nhại ví mình như “thằng mục” truyền từ đời lính trước sang đời lính sau: “Đời lính mục, ăn cơm cục, uống nước đục, bị cán bộ giục, không đi thì nhục, đi thì địch phục, đời thằng lính mục...”. Đôi khi vừa là cái nhìn tinh tường, vừa là phán xét của tác giả: “Nhìn vết dây võng trên thân cây mà hiểu được tâm tính đồng đội. Thằng nghịch ngợm cựa quậy đung đưa, là vết dây võng bị cứa lam nham. Thằng chỉn chu trầm lắng vết dây hằn lõm vào vỏ cây chỉ một vệt.” Phẩm chất nhà văn chỉ viết bằng sự thật và viết nên sự thật, Nguyễn Trọng Luân đã vượt qua những giới hạn khắt khe đời tư nhân vật, chọn lựa và làm thỏa mãn cả những người khó tính trong cuộc đang còn sống. Đó cũng là một thành công. 

Có thể nói Rừng đói là một tiểu thuyết phi hư cấu chân thật, độc đáo rất đáng đọc, còn hơn nhiều cuốn sách văn học hư cấu tẻ nhạt, làng nhàng đang làm mưa làm gió hiện nay.

6/12/2016

Friday, December 2, 2016

THÁNG CHẠP


Này là những nhớ những thương
Này là tháng chạp những sương lạnh lùng
Nào người về có ra sông?
Sương buông thì lạnh bến không còn đò

Vườn khơ khấc những cành mơ
hoa giong giềng đỏ nhói bờ sông quê
Này là sương muối rặng tre
Chăn trâu nhúm lửa nướng bờ nón mê

Người ơi ra tỉnh có về?
Tre nay thì ít người đi thì nhiều
Về mà tìm lấy nhời yêu
Cái ngày em thắt lưng chèo sẩm soan

Làng mình đông cháu nhiều con
Đông người làm thợ ít hồn văn thơ
Người ơi từ bấy đến giờ
Áo bông tháng chạp khâu hờ lại thôi

Ôi con sông! ôi quê tôi!
Dại hoa đến nỗi thành người tha phương
Sáng nay hoa cải loe vàng
Quê như dệt cả áo chàng áo em

3/12/16