Thursday, December 22, 2016

NGƯỜI ĐI TỪ TRONG RỪNG RA VIẾT VĂN ( Bùi Việt Thắng )

NGƯỜI ĐI TỪ TRONG RỪNG RA VIẾT VĂN

( Bùi Việt Thắng)



1.
Đọc nguyentrongluan.blog, tôi thích câu chuyện anh kể lúc mới mười tuổi (nhưng đã là anh cả của 5 anh em), theo mẹ lần đầu đi chợ tỉnh Yên Bái. Hai mẹ con thức dậy từ quá nửa đêm, đi bộ hơn mười cây số, đến nơi sớm quá bị ông gác cổng chợ còn ngái ngủ phang ngay cho một câu tóa đóm “chợ chưa họp kẻ cắp đã đến!”. Thương con, khi bán hết hàng, người mẹ mua cho một bát ca-ri, giá 8 hào, hết những 4 cân nhãn bán bù tiền vào đó. Con trai, trước đó thì đi xúc cua, bà mẹ thì chăm nhãn, dành dụm đi chợ tỉnh mong đổi hàng lấy tiền (của đáng tội, riêng nhãn thì người ta nếm nhiều hơn mua, nên thu về chả được bao nhiêu, may mà cua người ta không nếm được). Mới mười tuổi mà can trường, hay lam hay làm ( cũng một cái vó to như của người lớn). Nhắc lại điều này để thấm thía một nguyên lí tối giản – nhân cách con người được định hình trong tuổi ấu thơ. Lớn lên trong gian khổ, thiếu thốn và chiến tranh, bom rơi đạn lạc, Nguyễn Trọng Luân, người cùng thế hệ chúng tôi đã qua trui rèn “lửa đỏ và nước lạnh”. Học hết năm thứ hai trường Đại học Cơ Điện Bắc Thái (khoa Cơ khí), Nguyễn Trọng Luân, như nhiều bạn bè cùng trang lứa “xếp bút nghiên theo việc binh đao”. Đó là năm máu lửa 1972. Vào mùa hè nóng rẫy. Năm mà hàng ngàn sinh viên đại học nhập ngũ. Cuộc chiến bước vào giai đoạn quyết liệt chưa từng thấy. Nhiều người trong số họ không trở về sau 1975, tiêu biểu như nhà thơ Vũ Đình Văn (sinh viên Đại học Sư phạm Hà Nội), như anh Nguyễn Văn Thạc (sinh viên Đại học Tổng hợp Hà Nội). Nguyễn Trọng Luân thuộc số người may mắn trở về sau chiến tranh. Anh coi đấy là hạnh phúc. Học tiếp ở ngôi trường nơi mình ra đi. Lại học tiếp một trường nữa, thuộc hệ thống trường Đảng. Nhưng ra trường lại rẽ sang lối khác. Những tưởng suốt đời gắn với chuyện kinh doanh lấy lời lãi làm chính trong tư duy. Từng làm Giám đốc công ty. Nghĩa là từng có địa vị, tiền tài dẫu cho anh là người liêm khiết thì cái may mắn, cái lợi lộc nó vẫn cứ đến một cách tự nhiên. Nhưng nếu theo cái sơ đồ ấy thì có lẽ cái tên Nguyễn Trọng Luân cũng sẽ chìm nghỉm đi trong ngàn vạn cái tên bình thường khác. Và bây giờ thì anh sinh hoạt trong Hội Người cao tuổi!? Hình như số phận đã định đoạt. Nguyễn Trọng Luân phải cầm bút viết văn thì mới định vị mình được giữa bao la cuộc đời này. Tuy nhiên đó chưa phải là điều quan trọng nhất. Tất nhiên, khi cầm bút viết văn, tôi nghĩ, tự bạch của Nguyễn Trọng Luân là đáng tin cậy: “Tôi viết không phải là văn cho tôi mà là lời đồng đội đã hi sinh bảo tôi viết thế”. 
Tôi có cái cảm giác một lúc nào đó, từ rất lâu rồi, từ ngày mới cầm bút viết văn, Nguyễn Trọng Luân cứ bâng khuâng, chung chiêng giữa đôi bờ văn thơ. Trong một bài thơ gần đây đăng trên blog cá nhân, Nguyễn Trọng Luân vẫn cứ đau đáu với hoài niệm quá khứ: “Đừng vội nói chúng tôi ăn mày dĩ vãng/Dĩ vãng của chúng tôi là máu đất nước này/Tôi dạy con mình trong mỗi ngày khó nhọc/Bố con mình cũng chỉ kẻ ăn vay” (Bài thơ về “Tháng chiến binh”, viết ngày 7-12-2016). Trong số 11 tác phẩm trình làng văn (từ năm 2009 đến 2016) của Nguyễn Trọng Luân, tôi “đếm” được 4 tập thơ và 7 tập văn. Con số này nói lên một thực tế, dẫu sao thì Nguyễn Trọng Luân vẫn “kết” văn xuôi hơn thơ ca. Nói thế, tôi không có ý phân biệt sang hèn, cao thấp. Ơ đây là vấn đề sở trường và sở đoản. Riêng tôi nghĩ, văn xuôi mới là sở trường của Nguyễn Trọng Luân.

2.
Tiểu thuyết Rừng đói (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2016) vừa ra mắt độc giả, còn thơm mùi mực. Một cuốn tiểu thuyết đầy tính chất “lính trận”. Có cái vẻ ngoài mộc mạc đến thô ráp, ngổn ngang như là cố ý, giản dị như là nguyên tắc viết về chiến tranh. Dễ dàng có thể xếp loại Rừng đói vào kiểu “văn chương phi hư cấu”. Nhưng đừng tưởng dễ dàng cứ thế mà viết ra một cách tự nhiên, nhi nhiên. Có thể là không bịa đặt, phóng đại, không hư cấu theo nghĩa bình thường. Riêng tôi, vẫn nghĩ đã là sáng tác văn chương là cần có hư cấu. Trong một lần tao ngộ văn chương gần đây anh chia sẻ thật thà: “Tôi viết Rừng đói chỉ trong vòng một tháng là xong. Viết như lên đồng. Viết xong tôi kết cấu lại và tự đặt là tiểu thuyết”. Đó chính là con đường và cách thức hư cấu đấy thôi. Qua câu chuyện văn chương với các nhà văn mặc áo lính, không chỉ riêng tôi cho đến nay rút ra được một nhận xét có tính chất vừa lý thuyết vừa thực tiễn: Có ba kiểu nhà văn viết chiến tranh. Kiểu thứ nhất là những nhà văn có tài, họ quan sát chiến tranh rất sắc bén, nhanh nhạy, cảm hội chiến tranh bằng trí thông minh. Họ thực hiện công thức “Đi - Đọc - Viết”. Họ viết chiến tranh chủ yếu bằng suy nghiệm. Nhưng không vì thế mà độc giả không thích đọc tác phẩm của họ. Kiểu nhà văn thứ hai là “lính trận” chính cống, chính hiệu. Họ là người trải nghiệm chiến tranh bằng chính máu xương của mình và đồng đội. Tác phẩm của họ chinh phục độc giả bởi tính chất tươi nguyên, trung thành của chất đời. Họ ít hư cấu, bịa đặt. Thậm chí viết theo nguyên tắc “phi hư cấu”. Độc giả thấy nhà văn viết như là “nhúng tay vào sự thật”. Sự thật trong tác phẩm thường là “sự thật chiến hào”. Kiểu nhà văn thứ ba là lớp “sinh sau đẻ muộn” (thế hệ 7x là một ví dụ). Họ viết chiến tranh chủ yếu bằng trí tưởng tượng . Họ viết chiến tranh theo cách của mình nên đôi khi không tránh khỏi tùy tiện. Nên cùng lúc có nhiều cách viết chiến tranh là lẽ thường tình. Thậm chí có người còn đinh ninh “chưa biết mèo nào cắn mỉu nào”.


3.

Riêng tôi, khi tiếp nhận Rừng đói của Nguyễn Trọng Luân, là nghĩ tới phương châm viết của văn hào Nga thế kỷ XIX, L. Tolstoy, tác giả của kiệt tác Chiến tranh và hòa bình. Ông viết, đại ý, nhân vật mà ông yêu mến và quan tâm nhất khi viết là SỰ THẬT. Tôi nghĩ, Rừng đói của Nguyễn Trọng Luân được viết theo nguyên tắc phụng sự duy nhất chỉ sự thật. Đọc những trang văn của Nguyễn Trọng Luân trong Rừng đói tôi nhớ tới những câu thơ chát chúa, rớm máu, nhỏ lệ của nhà thơ Thôi Hữu trong bài thơ Lên Cấm Sơn viết trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp: “Cuộc đời gió bụi pha xương máu/Đói rét bao lần xé thịt da/ Khuôn mặt đã lên màu bệnh tật/Đâu còn tươi nữa những ngày hoa/Lòng tôi xao xuyến tình thương xót/Muốn viết bài thơ thấm lệ nhòa/Tặng những anh tôi từng rỏ máu/Đem thân xơ xác giữ sơn hà”. Cảm thán quá chăng? Tôi nghĩ là không! Tôi đã có cơ hội đọc được nhiều tác phẩm viết chiến tranh của nhiều thế hệ nhà văn Việt Nam. Tôi thích cách viết của Lê Khâm (sau này đi chiến trường ông lấy bút danh Phan Tứ) trong tiểu thuyết Trước giờ nổ súng. Cái hay của tác phẩm là rất ít tiếng súng ùng oàng. Cũng không có cảnh người chết trận vì chưa vào trận. Không có khói lửa. Là bởi “trước giờ nổ súng” thì cái tâm trạng của con người mới điển hình. Tôi lại cũng thích cách viết về những dư âm, hậu quả của chiến tranh như Cỏ lau của Nguyễn Minh Châu, hay những “nỗi buồn chiến tranh” như tên một tiểu thuyết cùng tên của Bảo Ninh. Nghĩa là tôi thích đọc cách viết ở đó chiến tranh được nhìn từ nhiều phía, có khi như thể là ở ngoài chiến tranh. Vì thế mà chuyện một tiểu đoàn sinh viên trong vòng 100 ngày chỉ có mỗi việc đi đào sắn, chế biến thô sơ rồi “cõng” về cho các đơn vị chủ công ở phía trước thì có gì đáng để viết? Sẽ có người phàn nàn tưởng viết về chiến tranh là thế nào, hóa ra là chuyện miếng ăn, cái đói. Nhưng đừng quên chuyện miếng ăn và cái đói không hề nhỏ nhặt. Viết về nó mà Nam Cao trở thành văn tài và có những kiệt tác để đời như Một bữa no đấy thôi. Nhưng máu thì vẫn đổ. Vẫn có không ít người mãi mãi tuổi hai mươi trong khi đi cõng sắn về tiếp viện cho đồng đội. Có lẽ sự vĩ đại lại chính là ở đây, từ những công việc có vẻ tầm thường nhất trong đời sống. Nguyễn Trọng Luân chia sẻ: “Khi còn ở chiến trường, tôi đã cho là chiến tranh là ở chỗ không có tiếng súng. Là mẹ tôi, là em tôi, và những người mẹ, người vợ. Tôi không thích những tác phẩm chiến tranh tỏ rõ là ác liệt, rõ là lâm li về hi sinh của nhiều người ngoài trận tiền. Là người chiến đấu nhiều trận, nên khi đọc đùng đoàng súng nổ và chết chóc chưa bao giờ tôi thấy mình xúc động mà cứ thấy cái sống lưng mình sường sượng. Sự thể ấy có thể: 1- Người viết không trung thực. 2- Văn chương đích thực không ở chỗ đó. Nó ở chỗ làm con người YÊU, NO ẤM, VƯƠN LÊN, SUNG SƯỚNG HƠN”. Tôi nghĩ, viết chiến tranh với Nguyễn Trọng Luân như là cách nhìn vào mặt sau tấm huy chương.

Hiểu được quan điểm sống và viết của tác giả, độc giả sẽ thẩm thấu vào Rừng đói sâu sắc hơn, tôi nghĩ như thế khi đọc xong tiểu thuyết rất đáng đọc của Nguyễn Trọng Luân. Tác phẩm ngồn ngộn chi tiết sống. Nhưng không làm ta thấy rối ren. Vì cái “sợi chỉ đỏ” của nó rất nổi bật – chủ nghĩa lạc quan chiến đấu, niềm vui sống, tình cảm tha thiết với quê hương đất nước. Trong một cuốn sách xuất hiện gần đây, có người đã viết như là đay nghiến về một thời “nếu cây cột điện biết đi thì nó cũng di tản”. Nếu người đó đọc Rừng đói của Nguyễn Trọng Luân, tôi nghĩ, có thể phải hối hận. Này đây, những người lính trẻ mười tám, đôi mươi đi đào sắn, cõng sắn về cho đồng đội có cái ăn để chiến đấu, khi đứng chân bên đất bạn đã: “Chả biết người đi ngoại quốc có cái cảm giác giống của chúng tôi không? Chỉ sâu ở trong đất người có vài ba chục cây số thôi mà một chiều ra bờ sông biên giới nhìn sang bên Gia Lai đã thấy nao lòng. Thấy như sắp về làng mình đến nơi (…). Nhìn khói đốt nương bên kia biên giới mà cứ ngỡ như mẹ đốt rạ ngoài đồng sau vụ gặt”. Đọc Rừng đói, lạ thay thấy tiếng cười của lính trận vang lên, lúc thì “ràn rạt”, lúc thì “tóe lên”, lúc thì “sèn sẹt”,…Thấy thật đã đời.
Gấp lại trang cuối tiểu thuyết Rừng đói, mọi chuyện gian nan, đói khổ, chết chóc dường như qua đi. Với tôi chỉ còn lại nụ cười chiến thắng của những người lính bình thường mà vĩ đại. Đó là thành công của nhà văn mặc áo lính Nguyễn Trọng Luân. Tôi nghĩ sẽ có nhiều người nghĩ như tôi./.
Hà Nội, tháng 12-2016

TÔI! NGƯỜI VẼ BÌA CUỐN RỪNG ĐÓI ( Hoạ sĩ Lê Trí Dũng )


Tôi đem đến buổi lễ này một hòn cuội, đây các bạn xem, nó đen, nhẵn lỳ, cầm mát rười rượi ... Nó được tôi nhặt tuần trước ở GHỀNH ĐÁ ĐĨA (Tuy Hoà - Phú Yên). Cách đây hàng chục triệu năm chắc nó to như quả bóng đá...? Trải nắng mưa và thời gian, hàng triệu gót chân bào mòn, hàng triệu phận người dẫm lên bây giờ nó còn như thế này! Nó đúng là CỦA HIẾM !

Hơn mười năm trước nhân một chuyến đi xa ngồi cùng trên chiếc com măng ca đít vuông, xe chở mấy người lính cũ, người 304, người 325, người công binh người pháo binh... Xe chạy, chuyện lính râm ran, những trận đánh ác liệt, những thương vong, những tình làng nghĩa xóm, cả những chuyện tiếu lâm ... Nhưng chuyện nào cũng nhắc đến chữ ĐÓI. Những chuyện, những cơn đói nếu không phải những người trong cuộc thì không bao giờ biết được! Tôi thấy một nguy cơ hiện hữu : Nếu những người lính này ra đi sẽ không bao giờ còn ai kể lại những chuyện như thế này nữa ! Dù rất ghét đao to búa lớn, tôi cũng phải dùng chữ : Những chuyện vĩ đại do một thế hệ vĩ đại ở một kỷ nguyên vĩ đại viết nên...! Nó như những gót chân dẫm lên, bào mòn hòn cuội của tôi... Những người lính với bao chuyện hay như thế nói với tôi : Kể ra thế thôi chứ họ không có tài ghi lại được! Ai là người có tài ghi lại được? Cũng sẽ là CỦA HIẾM , chứ gì nữa ! Và Luân, bạn tôi, lính Sư đoàn 320 TÂY NGUYÊN, cũng là một hòn cuội như vậy! Một hòn cuội biết nói !
Nhóm lính cựu chúng tôi thỉnh thỏang có gặp nhau, thường đùa: Nếu có quyền sẽ phong một danh hiệu cao quý cho Luân, hơn cả giải Nô Ben văn học, đó là danh hiệu : ANH HÙNG ĐỒNG ĐỘI ! Cái danh hiệu từ đáy lòng những người lính cú ấy được chắt ra từ hàng tấn nước mắt của bạn đọc các tác phẩm của Nguyễn Trọng Luân, những trang viết tưng tửng, viết như không, viết như không cần gọt rũa, viết như kể miệng với người bên cạnh, với một trữ lượng vốn sống như vô tận... Mỗi trang viết của Luân thấm đẫm mồ hôi, nước mắt và cả máu của đồng đội... Và người đọc vô tình , dù là một nữ thanh niên xung phong Đò Lèn, một nữ du kích chân Đèo Cả, một cô giáo Sài gòn ngày đầu giải phóng, hay một cháu bé học sinh cấp hai ngày nay... Vô tình, vô tình đều trở thành đồng đội của anh...!
Hai tháng trước, tôi có dịp về nhà Luân, ngắm nhìn sông núi đấm ao quê nhà... Chợt hiểu rằng : Cây có cội, nước có nguồn, Luân chính là lớp thanh niên quê tôi ngày ấy đại diện cho thanh niên cả nước gác bút lên đường ra trận... Anh chính là Cua, Cá, Rơm, Rạ, là đầm nước cỏ lau, là trâu bò cày cuốc... Nhất nhất cái gì của làng quê anh cũng có thể viết thành truyện... Với tôi ! Người như Luân thật là hiếm! Vì thế! Hôm nay tôi đến đây không phải bàn về RỪNG ĐÓI... Mà là nói về NGUYỄN TRỌNG LUÂN, một hiện tượng ! Rất mạo muội .?

Một chút về cái bìa cuốn sách Rừng Đói! Khi Nghe Luân bảo: Anh ơi! Rừng đói xong rồi đấy! Đang chờ bìa! Tôi vẽ ngay... Đầy hào hứng, Luân đã là ANH HÙNG ĐỒNG ĐỘI rồi thì ta cứ đồng đội mà vẽ thôi! Đồng đội là sống chết có nhau , là chia ngọt sẻ bùi... Tôi vẽ hai người lính " Việt cộng " cõng nhau vượt qua rừng già sau trận mạc, trên đầu Trực thăng HU- 1 A săn tìm... Cây rừng xao xác! AK đeo thõng, trái mỏ vịt và con dao găm bên sườn, quân phục tả tơi... Họ quyết không bỏ nhau! Bìa sách còn được sự hỗ trợ đắc lực của hoạ sỹ ccb LÊ THANH MINH rất giỏi về công nghệ thiết kế trợ giúp! Minh từng tham chiến mặt trận B trong chiến tranh... Trong buổi chiều muộn ngoài kia Hà nội hầm hập bon chen, hai người lính cũ vật lộn ba tiếng đồng hồ... Hình ảnh hai người lính cõng nhau tìm về với đồng đội của mình còn được nhắc lại trong bìa 4 ...! Đẹp xấu chưa bàn nhưng mọi người xem đều chung một nhận xét: BÌA RẤT LÍNH!

Có lần, tôi nói với Thầy tôi, Cụ HOÀNG NGỌC HIẾN: Văn lính, em thích BẢO NINH nhất! Có lẽ vì giọng văn Bảo Ninh có cái giọng thằng trai phố bất đắc dĩ cầm AK...! Hôm nay , tôi xin phép ghi thêm tên NGUYỄN TRỌNG LUÂN vào cạnh! Vì nó đặc quê, một trai làng cầm súng ! Mà văn của hai anh đều RẤT THẬT !Nói cho cùng! Dù nỗi buồn chiến tranh hay Rừng đói thì cũng chỉ nói lên 1/1000 những câu chuyện của những người lính chúng tôi... Chuyện trận mạc vĩ đại của những người lính vĩ đai !
Nhưng dù thế nào... Vẫn hơn là sẽ bị bỏ quên !

Hoạ sĩ LÊ TRÍ DŨNG.

Khúc vĩ thanh của một cuốn tiểu thuyết( Văn Nghệ Quân Đội )

Khúc vĩ thanh của một cuốn tiểu thuyết

Thứ sáu - 23/12/2016 08:56

 - Chiều ngày 20/12, tại hội trường NXB Hội nhà văn, nhà văn Nguyễn Trọng Luân ra mắt cuốn tiểu thuyết Rừng đói.
 
Là một cuốn tiểu thuyết viết về chiến tranh không có tiếng súng đạn, không có những trận chiến đấu khốc liệt với kẻ thù, nhưng những người lính trong Rừng đói lại phải đối mặt với một thứ thậm chí kinh khủng, đáng sợ hơn cái chết, đó là đói và sốt rét trên đường hành quân. Những câu chuyện trong Rừng đói hết sức giản dị, và chân thực về những người lính sinh viên Cơ điện, Y Khoa - "mặc áo học trò đi đánh giặc/ cắt tóc thư sinh lội chiến trường", họ vượt rừng, băng suối hành quân vào chiến trường B3 Tây Nguyên đánh Mĩ với cái bụng rỗng không. Họ phải dùng những tấm ảnh kỉ niệm của mình, quần áo lót, quân tư trang… đổi lấy lương thực của đồng bào hòng sống sót hành quân đến nơi chiến sự ác liệt.


Tiểu thuyết Rừng đói được viết ra từ những khát khao dồn nén của chính tác giả muốn thay mặt cho đồng đội của mình, cả những người còn sống và đã mất, chia sẻ những kỉ niệm về cuộc hành quân năm xưa. Chính vì thế, cuốn sách hàm chứa sự giản dị, tự nhiên, chân thực nhưng lại vô cùng sinh động.
 
Vì là người trong cuộc nên trong Rừng đói, Nhà văn Nguyễn Trọng Luân có những đoạn diễn tả về không khí, cảnh sắc đầy cảm xúc, gợi và da diết. "Đêm thùm thũm trên những mái tăng và sương ướt nhâm nhấp võng. Rừng èo ọt gió… như thể rừng đói".
 
Có lẽ đây là một buổi ra mắt sách khác và đặc biệt so với những buổi ra mắt sách thông thường. Đặc biệt bởi những nhân vật trong Rừng đói đều là những người có thật ở ngoài đời và nhiều người có mặt trong buổi ra mắt sách. "Tao thay mặt chúng nó cảm ơn mày đã viết đúng những gì chúng ta, chúng tao, chúng mình đã trải qua" - Ông Lệ, một đồng đội của Nguyễn Trọng Luân, một nhân vật của cuộc hành quân năm xưa đồng thời là nhân vật trong cuốn tiểu thuyết đã nói như thế trước khi phát biểu về cuốn tiểu thuyết.
 
Trong buổi ra mắt sách, nhân vật tiểu thuyết và nhân vật nguyên mẫu xóa nhòa ranh giới để ngào trộn vào nhau. Nhân vật tiểu thuyết bước ra ngoài đời bằng xương bằng thịt còn nhân vật ngoài đời bước vào trong tiểu thuyết làm rõ và bổ sung thêm rất nhiều chi tiết thú vị cho từng đoạn, cho nhân vật là chính mình, giúp cho các nhân vật trong tiểu thuyết vạm vỡ, sinh động và sống tiếp đời sống sau này không được viết trong cuốn sách.
 
Có thể nói, buổi ra mắt sách chính là khúc vĩ thanh của tiểu thuyết Rừng đói.
 
NGUYỄN MẠNH HÙNG

http://vannghequandoi.com.vn/Binh-luan-van-nghe/khuc-vi-thanh-cua-mot-cuon-tieu-thuyet-9894.html

Lính già 22/12. Thơ Nguyễn Trọng Luân. Ngâm : Trí Trọng Trí

KÊ CHUYỆN LÍNH MÙA KHÔ


Bạn sẽ hỏi sao lại là lính mùa khô?
Xin thưa ở chiến trường Tây Nguyên mùa khô là mùa đánh nhau. Vậy mà mùa khô 1973 trung đoàn tôi được nhận Huân chương chiến công hạng nhất. Huân chương này trong chiến đấu khi xưa là khủng lắm rồi, không giống huân chương hay danh hiệu Anh hùng bây giờ. Đạt được nó là máu, xương, là sinh mạng và ước nguyện của bao người. Hồi ấy không có sự ban ơn xin cho huân chương như bây giờ mặc dù bây giờ các nơi xem xét huân chương là tập hợp hang ổ của của những người học cao vọng trọng.

Tôi được gọi lên trung đoàn bộ để viết một bài "THƠ đón huân chương" vào cuối tháng 11/1973
Anh Nguyễn Văn Đác chủ nhiệm chính trị trung đoàn sau này là Thiếu tướng chính ủy QK Thủ Đô nói:
- Cậu có 15 ngày để thi hành nhiệm vụ. 
Đến ngày thứ 12 tôi vẫn tắc tị. Ngày thứ 13 tôi ra nương đồng bào xin thuốc. Hút điếu thuốc khét lẹt từ cạp váy con gái Ê đê ngồi ở nương nhìn mấy cô gái địu con ngắc ngoải sau lưng làm nương. Chợt nghĩ mình cũng là đứa trẻ con so với Sư đoàn , Trung đoàn đó thôi. Và thế là nghĩ ra cách viết . Tôi chạy về hầm và viết một mạch 3 tiếng đồng hồ thì xong bài Diễn Ca Truyền thống Trung đoàn. Chiều ấy lại ra nương đồng bào xin thuốc. Các người con gái đã về bản hết . Buồn ngao ngán. Lại nhớ một năm trước mình đang ở Rừng đói. Bây giờ bài Diễn ca ấy nhiều thằng chúng tôi vẫn nhớ . Nhất là Khuất Duy Hoan , vì đã có lần nó phải ngâm thơ trong hội nghị quân chính trung đoàn đầu năm 1974 ở vùng làng DỊT Gia Lai. 
Hôm nay nhân ngày 22/12 tôi treo khúc cuối của DIỄN CA ấy lên cho bạn lính cùng đọc

Trích LỚN LÊN VỚI TRUNG ĐOÀN
( Nguyễn Trọng Luân chiến sĩ c7d8 e64)

….Đâu tiếng thét xung phong đó là nơi kẻ thù giáp mặt
Ta lại gặp những chàng trai chân đất
Những anh hùng bốn mùa say đánh giặc
Không kể thời gian không tính tháng ngày
Một nắm rau khoai một đùm cơm vắt
Vẫn sắn gân trong những chiều xuất kích 
Mắt vẫn sáng trong đêm đuổi địch 
Miệng vẫn cười trong những ván ù mo
Và hầm kèo còn đầy ắp tiếng thơ

Gan góc kiên cường trên Bẩy Tám Tư (784)*
Như đồi Ba mươi đêm nào rực lửa 
Đường 19 thoắt thành giông tố 
Cờ bay trên trận địa Chi Bồ *

Bàn chân ta đi trên cao nguyên bát ngát 
Chiến sĩ vun trồng nở đẹp những đồi ngô
Lúa vẫn trổ trong tầm pháo kích 
Hoa mướp khoe màu bên những hố bom
…..
Cảm ơn Đảng dậy ta đứng bên hố bom không hề chóng mặt
Ngâm một câu Kiều không sợ hóa người xưa
Sức bật thân tre sức bật tàu dừa
Sức bật Việt nam từ trong lòng đất
Đất nước ta máu và nước mắt 
Nên một vầng dương sáng hôm nay
Truyền thống vẻ vang tính tháng tính ngày 
Cả 4000 năm dồn lại
Thế hệ ta là kết tinh tự ngàn xưa
Đường ta đi thắm đỏ màu cờ
Không bao giờ dừng lại

Hôm nay dưới quân kì chói lọi
Chính ủy đoàn mái tóc đã hoa râm
Người anh cả chúng ta đánh giặc hai mươi năm
Vẫn ấm áp vững lệnh truyền xuất kích
Tiến lên đoàn ‘ Dũng cảm đánh hăng”
Gia lai 1973

Bài được viết ra rồi được duyệt. Trong ngày cuối tháng 11 năm 1973 dưới tán rừng cách ngã ba Hàm Rồng bây giờ 20 km cả hội nghị gần hai trăm người lặng đi nghe một người lính ngâm thơ bài này. Người lính ấy khi trở về Thái Binh làm nông dân đã hai khóa trúng Bí thư Đảng ủy xã Vũ Tây Kiến Xương Thái Bình. Anh ấy tên là Hoàng xuân Lục. Còn một người lính sơ cua đề phòng trường hợp người ngâm chính tên Lục hi sinh là Khuất Duy Hoan. May , cả hai thằng ngâm thơ của mình viết đến bây giờ vẫn sống KHỎE và TỬ TẾ.

22/12/2016

Tuesday, December 13, 2016

Vô đề

Anh đang nép vào lằn ranh quên và nhớ
Tiếng rao đêm ai sắn luộc đi nào
Bừng tỉnh tiếng của quê mình đó
Người bán hàng đi rồi đêm đi theo


10/12/2016