Sunday, December 25, 2016

CỎ HOA ĐÊM GIÁNG SINH


Chúa có dặn chúng mình đừng dẫm lên cỏ hoa không?
Mà cứ Giáng sinh là cỏ hoa những con đường nát héo
Giá rét là thế
Chân trần váy ngắn vã mồ hôi
Giáng sinh chi mà cứ thấy tơi bời
Thành phố nơi tôi quê tôi lạ lẫm
Ngày Chúa ra đời phố phường tôi bẩn lắm
Chỉ tại con chiên chứ chúa lỗi lầm gì

Có một thứ sinh ra trong ảo mà vô tri
Vô biên cả với những điều không từng hiểu
Có những điều hiện hữu
Vô tình như ta chưa thấy trong đời
Chúa ở trên cao như cha mẹ con người
Con cháu đến mồ cha nghiêm trang hương khói
Nhặt cánh lá rơi nâng bông hoa dại
Trên mồ cha thổn thức những đời sau

Những con đường thành phố sáng hôm sau
Rác rưởi và những cành hoa gục nát
Sau một lễ Giáng sinh đó là điều hiểu được
Linh thiêng là đây.
 26/12/14

Thursday, December 22, 2016

NHỚ RỪNG ( Nguyễn Đình Luân )

Trong buổi ra mắt Rừng đói có một người bạn lính SV chiến đấu ở chiến trường B2 lặng lẽ ngồi cuối hội trường lau nước mắt nghẹn ngào. Vì thời gian kéo dài rồi nên BTC không thể đáp ứng nhiều ý kiến phát biểu hơn nữa. Lúc liên hoan bạn ấy dúi vào tay tôi tờ giấy ghi bài thơ bạn viết. Tôi trân trọng giới thiệu lên trang face của tôi để bạn lính cùng đọc và cám ơn vợ chồng bạn đã đến dự . 
Bạn tôi là Nguyễn Đình Luân- Tiến sĩ Triết học ( Nguyên SV SP Hà Nnội đi bộ đội trở về TN ĐH SP rồi đi học cùng tôi ở TGTW) 
Vợ của bạn là Tiến sĩ Lê Trung Nguyệt - người có tham luận về Rừng đói ;

Vợ chồng Luân Thư cám ơn vợ chồng Luân Nguyệt
********************
Dưới đây là bài thơ của bạn Nguyễn Đình Luân
NHỚ RỪNG

Bao năm rồi vẫn nhớ về rừng
Rừng sốt rét , rừng đầm mưa cánh võng
Rừng chở che bao nấm mồ đồng đội 
Hôm nay về " Rừng đói" với bạn tôi


Nhớ xót xa ngày ấy xa xôi
Đói quặn lòng, tay run đào củ chụp
Ra chân núi Bà Đen trộm sắn
Gặp pháo bầy chạy ngã sắn đè lưng


Bốn tháng trời ăn đậu xanh không cơm
Bụng réo ruột sôi chân đi không vững nữa
Nhưng bọn mình đâu có nhiều con chữ
Nhiều thời gian để viết rừng ơi !


Hết mùa khô rồi lại mùa mưa
Lịch sử dẫu quên thì chúng mình vẫn nhớ
Sốt rét nhiều nghẹn ngào nức nở
Nhớ thắt lòng ngày bạn Khoái ra đi...


Và Lịch nữa còn đây người vợ trẻ
Trao vội yêu thương đêm lạnh giữa đồi
Anh không về để lại đá vọng phu
Thương bao phận gái quê ngóng đợi


Bao bạn bè nằm lại những nơi xa vời vợi 
Kính mời các anh hôm nay về tụ hội
Nâng chén rượu ngô và khúc sắn bùi 
Nhớ một thời RỪNG ĐÓI đồng đội ơi


Hà Nội 20/12 / 2016 
Nguyễn Đình Luân

VÀI CẢM NHẬN VỀ RỪNG ĐÓI ( KHUÁT DUY HOAN )


VÀI CẢM NHẬN VỀ RỪNG ĐÓI.
Bao năm lăn lộn chiến trường
Nay ru cháu ngủ đời thường bạc phơ
Chuyện xưa cứ ngỡ nằm mơ
Chợt quên, chợt nhớ ầu ơ… đói rừng



Tôi có cái may mắn được cùng nhập ngũ một ngày (15/09/1972);cùng huấn luyện tân binh trong một trung đội, đại đội, tiểu đoàn bộ binh của Sư đoàn 304B tại Phú Bình, Thái Nguyên; cùng vượt Trường Sơn vào chiến trường Tây nguyên, sống những ngày đầu tiên hơi xa bom đạn ác liệt một chút nhưng rất gần với đói khổ, đổ máu ở chính cái nơi tác giả thai nghén “Rừng Đói” . Sau đấy chúng tôi lại cùng về chiến đấu trong một đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn, của sư đoàn 320 ở Gia Lai cho đến sau ngày 30/4/1975 tôi đi học sĩ quan rồi theo đời binh nghiệp. Nguyễn Trọng Luân ra Bắc học nốt Đại học Cơ điện, bươn chải thương trường, làm cán bộ - làm kinh tế…
Năm 1979, sau ngày tôi ở chiến trường Cam Pu Chia về nước mới lại gặp nhau ở Hà Nội,ở Thái Nguyên và thêm nhiều lần ở Tây Nguyên , khi cả 2 đều đã trưởng thành. Có vợ, có con và bây giờ thì cùng có cháu nội, cháu ngoại.
Đầu năm 2016 khi bạn tôi nêu ý định viết Rừng Đói. Tôi, Đinh Ngọc Sỹ, Thân Như Ngôn đều rất phấn khởi và từng ngày mong nó ra đời.
Cách đây một tháng, bốn ngày. Vợ chồng tôi, vợ chồng Luân cùng vào Tây nguyên thăm lại chiến trường xưa, thăm lại mảnh đất gia đình tôi đã gắn bó hơn 20 năm sau thời kì Hội nhập. Tối 15/11, vợ chồng Luân sang phòng vợ chồng tôi ở cùng nhà nghỉ tại Thành phố Pleiku trao tặng Rừng Đói “ Mày là người đầu tiên nhận sách này đấy nhé”.Đêm ấy vợ chồng tôi cùng ngồi đọc đến trang cuối cùng.
Tôi thì bồi hồi, náo nức, nghẹn tức sống lại từng ngày cùng những kí ức đã qua gần 45 năm và chợt hiểu rằng từ nay những kỉ niệm này không chỉ còn là của riêng tôi, của riêng Luân, của riêng những đồng đội cùng sống với nhau ngày ấy mà nó đã trở thành của vợ con, của cháu chắt chúng tôi, của các bạn đồng ngũ và của những người biết trận trọng quá khứ, yêu mến cuộc sống chiến sĩ. Lớn hơn một chút nữa, nó có thể còn là tài sản nho nhỏ của dòng văn học hiện thực về đề tài chiến tranh.Chiến tranh xa tiếng ùng oàng của bom đạn,tiếng gầm rú của máy bay,xe tăng nhưng vẫn phải hy sinh vì sốt rét ác tính; đổ máu vì chông mìn và sự tàn phá hồng cầu vì sốt rừng.
Còn vợ tôi, lúc thì nước mắt dàn dụa, nấc nghẹn khi tôi đọc đến đoạn “…đúng lúc ấy thằng Khoái rướn người lên, khẩu súng ngắn của nó phụt đạn ướt hết quần. Mắt nó lờ đờ rồi lịm hẳn ( Khoái chết vì sốt rét ác tính)… cả tiểu đội khóc. Sĩ gọi toáng lên, tao bắn con mang tưởng là mày được miếng thịt rồi hãy chết, thế mà giời chả thương mày” . Lúc sau vợ tôi lại cười ngặt nghẽo khi nghe chuyện chúng tôi ngồi “ sản xuất thời trang – quang treo vú đàn bà” đi đổi gà; chuyện đánh tú lơ khơ ăn ảnh Ái Vân; chuyện “Ôi! Cởi chuồng thế này thì không thể gọi nhau là đồng chí được!”… Rồi vợ tôi thở dài “ May mà có anh Luân viết lại để vợ con, các cháu sau này hiểu thêm về những gian khổ hi sinh nhưng tràn đầy ý chí, lạc quan của một lớp trai trẻ trong đó có anh để mà tự hào và yêu thương nhau hơn… Mà sao anh chẳng chịu kể, chịu viết như anh Luân nhỉ?”. Tôi ậm ừ “ Anh là quan võ mà, vốn liếng văn chương thì em biết từ ngày đầu tiên anh tấn công em rồi còn gì. Thôi ngủ đi, ngày mai bọn anh sẽ đưa các em lên thăm mảnh đất ngày xưa, nơi nguồn cội Rừng đói của anh Luân, nó cách đây chưa đầy 100km thôi”. Tôi chỉ tay về hướng Tây Bắc Pleiku rồi 2 vợ chồng tôi chìm vào giấc ngủ.
Đọc Rừng đói của Nguyễn Trọng Luân sẽ có những cảm nhận khác nhau nhưng tôi tin rằng, nhiều người sẽ có chung một cảm nhận là nó rất thật. Riêng với chúng tôi, đó là những chuyện thật đến nao lòng khi được nhắc lại.Nó là “…ngôn ngữ lính tráng,trẻ trung,tán tỉnh,cười cợt…Kể.Thì thầm kể.Xót xa kể.Quặn thắt kể.Cười cợt kể”.Đúng như nhận định của nhà văn Sương Nguyệt Minh mà tôi mới được quen. Nếu như tác giả đã vượt qua rào cản khi viết những chuyện thật. Vui có – buồn có – hay hay, dở dở có nhưng dạn dày chất trẻ của những con người thật đang còn sống, làm nhân vật trong tác phẩm của mình, chẳng cần hư cấu thêu dệt, thì tôi cũng phải vượt qua rào cản là nhân vật, là nhân chứng khi nói về tác phẩm , tác giả.
Cái thật dưới ngòi bút của NTL rất giản dị và gần gũi, cứ như ai cũng có thể biết, có thể cảm nhận nhưng chưa nói ra được mà thôi, nó là một thứ triết lý mộc mạc khi lý giải về chiến tranh của lớp thanh niên chúng tôi ngày ấy. “chiến tranh có nhiều điều kì lạ…tôi cứ thấy nó vô lý làm sao, nhưng rồi lại thấy nó hợp lý… tất cả chúng tôi trong đội hình ngày ấy đều thích đi bộ đội… khi đi khám lại sức khỏe khối thằng bị cho quay về lại khóc, lại xin đi chiến trường bằng được. Đằng sau chúng tôi là một thứ kỉ cương dòng họ gia đình, là nụ cười ánh mắt của bạn bè cùng trường. Là nỗi kinh sợ bị xã hội dè bỉu khi mình không tham gia vào công cuộc kháng chiến của dân tộc. Là cái vẫy tay của bạn gái ngày lên đường, là sự khát khao ngày trở về tươi sáng, khiến chiến tranh dù không phải là trò đùa thì nó vẫn đang đùa với đời người trai”. Phải chăng nó là chính thể,là cụ thể của truyền thống dân tộc mà chúng ta thường được nghe,được nói, được viết,được truyền dạy đó là : “Lòng yêu nước nồng nàn và trí căm thù giặc sâu sắc mỗi khi đất nước có giặc ngoại xâm”.
Rồi đến khi chúng tôi hành quân, cả ngàn cây số vượt dãy Trường sơn vào đến chiến trường Tây nguyên (còn gọi là B3), lúc đọc biên chế về đơn vị chiến đấu, thấy cái hình ảnh cán bộ nhận quân “…cả trăm lính mà chỉ cần 1 tờ giấy phê đúp ghi trích ngang (họ tên – ngày tháng năm sinh – quê quán – ngày nhập ngũ – tên cha mẹ - Đảng Đoàn – Khi cần báo tin cho ai, ở đâu?) sinh mạng nguồn gốc một con người đọc chỉ chưa hết 5 giây đồng hồ, sự làm cách mạng đơn giản đến thế là cùng. Chỉ vài dòng ngắn ngủi thế thôi, là chúng tôi đi vào máu lửa và có thể hi sinh . Còn nữa “…chia tay rồi, cán bộ khung dẫn quân lên đường ra bắc. Ông nào cũng cười tươi như hoa, ông nào cũng chúc lính đi vào chiến đấu cho tốt. Chiến đấu rồi lập công, rồi gửi về hậu phương nhé. Cán bộ nhận quân thì lẩm bẩm…chúc con mẹ gì, cứ chúc nhau giữ được cái gáo ấy. Chiến công nào họ gửi về địa phương? Có mà giấy báo tử người ta mới gửi về hậu phương. Hừ! sao không cho nốt mấy cha dẫn quân này vào chiến đấu để nó hót cho vui”. Quả thực cái điều tưởng như vô lý ấy lại cũng có lý của nó khi về đơn vị trải qua những trận chiến đấu, sau cái lý của mấy ông cán bộ chỉ huy ở chiến trường là “bom đạn nó dậy là khôn hết” thì ngẫm lại cán bộ khung huấn luyện tân binh ngày ấy là người dạy cho mình những kĩ năng sơ đẳng nhất của người lính chiến để có cơ mưu đánh giặc, sống sót và trưởng thành.
Quay lại với tác phẩm. Ngày ấy mới ở miền bắc vào chúng tôi không thê tưởng tượng được chiến trường B3 lại đói lắm thứ như vậy: Đói cơm, may mà có sắn thay cơm ( sắn độn gạo, sắn luộc, sắn nướng,bánh sắn,xôi sắn …). Cũng may ngày chúng tôi vào Tây Nguyên đã có sắn do lính binh trạm,lính hậu cứ trồng trước đó để mà ăn.Có lẽ cũng từ đây bài hát “Cây sắn tiến công” của Trần Bách chiến sĩ binh trạm Nam Tây nguyên ra đời “Một cây sắn ta trồng, là một tên Mĩ gục,ngàn cây sắn ta vun là ngàn tên giặc tan thây…khoái không, khoái không…”.
Đói thịt, đói cá thì mò mẫm dưới suối, dưới sông, hoặc trốn cấp trên đi săn bắn trộm, hoặc kiếm cái gì có thể đổi cho đồng bào để lấy gà, lấy cá.
Đói rau thì đã có rau rừng, rau sắn ( rau sắn luộc, rau sắn xào, rau sắn nấu canh, rau sắn muối chua. Sang hơn thì nộm với vừng với lạc, sang hơn nữa thì nấu với thịt hộp).
Đói thuốc: thuốc chữa bệnh, nhất là thuốc sốt rét(Ký ninh,Ni va quyn,Quy nin) ở miền Bắc đem vào thì cất kĩ dưới đáy ba lô thấp thỏm chỉ sợ rơi mất; thuốc ho, thuốc cảm, thuốc bổ thì quá là xa xỉ. Còn đói thuốc lá, thuốc lào thì đã có lá sắn, là mướp thái nhỏ trộn với thuốc rê hút dè. (Chả là hồi trẻ con ở quê bọn tôi hay lấy cuộng cây mướp khô châm lửa làm thuốc lá cũng thấy cay cay mùi thuốc).Không tin các vị cứ làm thử mà xem).
Đói muối. Ấy là sau khi luộc gà xong mới giật mình vì không có gì để chấm.Tiểu đội trưởng Tám (rỗ) xui tôi xuống bếp mời anh Thịnh (xồm) công nhân phân xưởng nồi hơi của nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ cùng nhập ngũ với tôi một ngày,tuổi chỉ hơn tôi một Giáp nhưng vì cùng làm với bố mẹ tôi nên tôi gọi bằng chú.Vừa dứt lời mời ông dã nhăn nhó “Lại kiếm tý muối chứ gì -Vâng bí quá phải binh địch vận thôi vậy”. Nhưng có lẽ cái đói khổ nhất ngày ấy là đói thư nhà. Bốn tháng rưỡi hành quân vượt trường sơn, hai tháng rưỡi từ lính tân binh trở thành lính cựu binh mót sắn, thái sắn, phơi sắn, gùi sắn ra sông Pô cô gửi ra cho đơn vị ở phía trước đánh nhau thì làm gì có hòm thư để mà gửi,mà nhận … Và còn một cái đói nữa lấp ló đâu đó trong tác phẩm.Ấy là cái đêm chúng tôi gặp trung đội nữ vận tải B3 gùi hàng vào tuyến trước dừng chân nghỉ lại trong khu rừng chúng tôi trú quân. “Họ bảo tất cả họ đều ở Quảng nam.Giọng Quảng nam nghe ròn vo cứ như ném cả chùm quả sung xuống nước…Tối ấy sinh hoạt tiểu đội nhoáng nhoàng.Chúng tôi mò sang chỗ các cô gùi thồ chơi.Cô b trưởng nói rõ to.các đ/c nghe hầy,đi ngủ sớm sáng mai ta vượt sông hầy,giữ nghiêm kỷ luật bộ đội khu 5 hầy…Chúng tôi đến bãi khách vui hẳn lên.Các cô kêu bọn tôi hát,kêu bọn tôi kể chuyện Hà Nội…Trong khi ai cũng vui, cũng cười chỉ có võng cô b trưởng không có chú lính nào ngồi cạnh.Tôi đi ra võng cô b trưởng ngồi xuống cỏ.Có tiếng động trên võng,.Ra là cô dịch đít trên võng rồi bảo,anh ngồi lên võng đi,ngồi đất có kiến rừng đó…Lần đầu tiên có một cơ thể đàn bà chạm vào người,tôi như cứng cả tay chân…Rồi cô hỏi tôi nhiều thứ lắm,tôi chả nhớ cái gì vào cái gì nữa…Cô b trưởng ôm ngang lưng tôi tự lúc nào.Ngực cô áp vào vai tôi cứng ngắc…Những cánh rừng bọn em đi qua cũng đói anh à.Sốt rét thì sẽ khỏi nhưng đói thì dai dẳng đến khi hy sinh.Em sợ…cô gái ngẩng lên nói gọn và dứt khoát.Anh mần em cái hun đi anh,Tôi im lặng và cô hôn tôi…” Mãi sau này chúng tôi mới phát hiện và rỉ tai nhau “Đói phụ nữ chúng mày ạ”. Thương nhất là mấy ông lính lớn tuổi có vợ ở quê. Cũng chính từ sau cái đêm ấy chúng tôi chợt xấu hổ nhận thấy cả tiểu đoàn toàn những thân trai tráng kêu đói, kêu khổ váng cả rừng và cảm thấy đỡ đói hơn những ngày sau đó.Cũng hơi tiêng tiếc là không thể sẻ chia những “Cái đói” với các cô gái Quảng Nam rắn rỏi đáng yêu thương ấy.
Ngày 15/9/2017 chúng tôi dự định tổ chức gặp mặt kỷ niệm 45 năm ngày nhập ngũ với những người còn lại của gần 500 con người thuộc tiểu đoàn 76 sư đoàn 304B (Lớp lính mà thanh niên có,trung niên có.Nông dân có,công nhân có,sinh viên có và cả những thầy giáo,có người là hiệu phó cấp 3 rồi cũng cùng nhập ngũ một ngày với nhau). Tổng động viên mà.Trong số 31 nhân vật trong “Rừng đói” có 6 người ngã xuống trên các chiến trường Tây Nguyên,Nam bộ và Căm Pu Chia,mới tìm được hài cốt 4 người đưa về quê; 2 người chết vì bạo bệnh sau khi rời quân ngũ; 23 người còn lại vẫn sống vui bên vợ con,cháu chắt và sống rất tử tế. Chúng tôi hẹn gặp nhau tại nơi huấn luyện tân binh ( Phú Bình – Thái Nguyên).Hãy dành ít “Rừng Đói” làm quà tặng các bạn đồng ngũ Luân nhé.
Xin chúc bạn luôn vui khỏe .Mong rằng sẽ có thêm những tác phẩm mới của bạn.
19/12/2016

"RỪNG ĐÓI" - MẶT SAU CỦA VẦNG HÀO QUANG CHIẾN THẮNG ( KHUẤT THU HỒNG )

"RỪNG ĐÓI" - MẶT SAU CỦA VẦNG HÀO QUANG CHIẾN THẮNG
Hôm nay được anh Nguyễn Trọng Luân, tác gỉả cuốn "Rừng đói" mời đến dự buổi giới thiệu cuốn tiểu thuyết này tại trụ sở Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 65 Nguyễn Du. Thú thật đây là lần đầu tiên được tham dự một buổi giới thiệu tác phẩm văn học nên mình rất hồi hộp. Anh Nguyễn Trọng Luân bảo mình phát biểu mấy câu, mình sợ quá chối luôn, bảo em không biết nói gì. Anh Luân ạ, em thấy toàn các nhà văn nổi tiếng như Bảo Ninh, Khuất Quang Thuỵ, rồi các nhà phê bình văn học "khủng" ... em càng sợ. Mọi người đều nhận xét rất hay về cuốn tiểu thuyết. Thích nhất là phần chia sẻ của các bạn đồng ngũ của tác giả như anh Hoan Khuất, anh Đinh Ngọc Sỹ, anh Nguyễn Văn Lệ. Nghe các anh kể lại những mẩu chuyện thời lính gian khổ mình không cầm được nước mắt. Các anh đã trở về với quê hương, gia đình, đã thành đạt, nhưng còn bao nhiêu bạn bè của các anh ra đi trong cái đói mòn mỏi, trong những cơn sốt rét ác tính hiểm ác, trong những làn đạn bom huỷ diệt ...

Nếu hôm nay mình có đủ can đảm để phát biểu mình sẽ nói với anh Nguyễn Trọng Luân rằng, mình đã đọc hết cuốn truyện ngay trong buổi tối nhận được nó. Dù tác giả gọi nó là tiểu thuyết nhưng mình sẽ gọi nó là tự truyện, thậm chí là hồi ký. Ví đó là câu chuyện hoàn toàn chân thực được kể lại bằng một phong cách vô cùng gần gũi, như ôn lại, như tâm sự, lại có lúc như tự sự. Mình không nghĩ có chi tiết nào được hư cấu. Có chăng chỉ là sắp xếp lại các sự kiện theo mạch kể mà thôi. Mình nghĩ có thể tác giả viết rất nhanh, vì những hồi ức ấy chắc hẳn đã trở đi trở lại với anh trong bao nhiêu năm qua - đó là một phần đời của anh, của đồng đội anh, phần đời đẹp nhất của một con người, nhưng lại là phần đời gian khổ nhất, phần đời luôn mấp mé giữa cái sống và cái chết.
Có một điều rất đặc biệt ở câu chuyện này. Chuyện kể về cái đói, cái đói se sắt, quặn thắt ruột gan, của những người lính đang tuổi thanh xuân. Có cả cái chết, cả sự thiếu thốn những điều kiện tối thiểu nhất của cuộc sống. Nhưng câu chuyện không hề bi thảm. Hay đúng hơn là cách kể chuyện của anh không hề bi luỵ. Kể cả đoạn anh Khoái ra đi giữa cơn sốt rét ác tính và cái đói đến kiệt sức, tim mình thắt lại, nhưng mình đã không khóc. Cách kể chuyện của anh quá gần gũi, quá giản dị và chân thực, như là đang ngồi cạnh thủ thỉ, làm cho mình dù thấy vô cùng xót xa nhưng không làm mình bị ám ảnh. Gấp cuốn sách lại, cảm giác biết ơn tràn ngập trong lòng. Cảm ơn anh đã cho những người ở hậu phương như em thời ấy, cho những thế hệ sau biết rằng chiến tranh không chỉ là máu lửa mà còn có cả đói. Rằng đằng sau vầng hào quang chiến thắng còn có những tháng ngày đói triền miên của hàng ngàn chiến sĩ. "Rừng đói" hơn cả một cuốn truyện, đó còn là pho lịch sử đau thương mà chân thực của đất nước này. Một ngày nào đó câu chuyện Rừng đói phải được đưa vào sách giáo khoa cho những thế hệ sau để chúng thấm thía và càng biết trân quý giá trị của hoà bình.
20/12/2016

“Rừng đói” – lời tri ân gửi tới đồng đội ( Văn Nghệ- Hội Nhà Văn Việt Nam )

“Rừng đói” – lời tri ân gửi tới đồng đội



Hướng tới kỉ niệm 72 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22-12-1944 – 22-12-2016), Nhà xuất bản Hội Nhà văn đã tổ chức buổi giới thiệu cuốn tiểu thuyết “Rừng đói” của tác giả Nguyễn Trọng Luân. Cuốn sách thuộc thể loại tiểu thuyết phi hư cấu, được viết ra từ chính những trải nghiệm thực tế đầy khắc nghiệt trong những năm tháng tác giả cùng đồng đội tham gia chiến đấu chống đế quốc Mỹ trên mặt trận Tây Nguyên.
Nguyễn Trọng Luân lên đường nhập ngũ khi đang còn là sinh viên năm thứ ba khoa Cơ khí, trường Đại học Cơ điện, nhưng chỉ trong bốn năm tham gia chiến đấu (1972 – 1975), anh lính trinh sát bộ binh ấy đã cùng đồng đội tham chiến suốt “từ rừng tới biển”. Tiểu đoàn của anh gồm 4 đại đội sinh viên từ các trường Đại học: Bách khoa, Mỏ - Địa chất, Y khoa, Nông nghiệp, sau ba tháng hành quân ròng rã vượt Trường Sơn vào tận chiến trường nhưng các tân binh không được cầm súng trực tiếp chiến đấu mà phải làm nhiệm vụ...đi mót sắn tận đất Cămpuchia để gùi về tăng khẩu phần ăn cho Sư đoàn 320 có sức đi đánh giặc. Những chàng lính sinh viên lãng mạn đã trải qua những cơn đói khát, rách rưới, sốt rét, thương vong... trên một chiến trường không có tiếng súng, không bom rơi đạn nổ. Có anh lính bị sốt rét ác tính, người run cầm cập mà bụng vẫn lép kẹp khiến đồng đội của anh ngửa mặt lên trời khóc: “Ôi ông giời ơi ông thương thằng Khoái với, cho chúng con bắn được con thú rừng cho nó miếng thịt để nó đi.” Đêm hôm đó, đồng đội của anh bắn được một con mang, đem đi vặt lông nấu cháo nhưng bưng bát cháo nóng đến cho anh ăn thì anh đã chết. Mặc dù ai cũng đói nhưng không thể nuốt nổi một miếng cháo, vì tất cả đều “no”, chỉ có rừng là đói. Bên cạnh những chi tiết xót xa đó còn có cả những câu chuyện hài hước đậm chất lính: hai anh lính trẻ chưa có người yêu mà nghĩ ra cách cắt chóp của hai chiếc mũ tai bèo để khâu thành chiếc áo lót phụ nữ (cooc xê) mang vào bản của người dân tộc đổi được một con gà to bằng con quạ. Đổi xong, hai chàng lại tiếc hùi hụi vì nghĩ giá như khâu thêm mấy cái tua rua màu xanh đỏ nữa chắc phải đổi được con gà to bằng chõ xôi.
Trong buổi giới thiệu “Rừng đói”, tác giả đã mời thủ trưởng đơn vị cũ (Trung tướng Khuất Duy Tiến - Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 64, nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 320, nguyên Tư lệnh Quân đoàn 3) và những đồng đội hiện đang sống ở cả hai miền đất nước. Trung tướng Khuất Duy Tiến không nén được những giọt nước mắt khi chia sẻ: “Tôi vô cùng xúc động khi đọc cuốn sách này. Nó gợi nhớ tất cả những kí ức đói. Thời đó lính đói, dân đói. Đói lắm. Trong khi đó địch thì liên tục tấn công, Sư đoàn từ 2.400 còn 1.900 lính. Ai đi chiến đấu thì được tiêu chuẩn 2,5 lạng gạo/ngày, ai đi đào sắn thì được 1 lạng gạo cùng với 2,5kg sắn. Lính quý cơm gạo đến mức trước khi hấp hối hy sinh còn cố đưa nắm cơm thấm máu cho đồng đội, bảo ăn đi mà lấy sức chiến đấu... Tôi xin thay mặt anh em đồng đội cảm ơn Nguyễn Trọng Luân đã viết lại chuyện về Binh đoàn Tây Nguyên ngày ấy, cảm ơn các đồng chí đã chiến đấu bảo vệ đất nước, xây dựng Sư đoàn 320 hùng mạnh. Xin gửi lời tri ân đến những người đã mãi mãi nằm lại nơi chiến trường ác liệt.”
Nhà văn Khuất Quang Thụy (Ủy viên BCH Hội Nhà văn Việt Nam, TBT Báo Văn nghệ) là một trong những đồng đội của tác giả, đồng thời là người luôn động viên Nguyễn Trọng Luân qua những lá thư gửi cho nhau trong chiến trường và khi đã trở về với đời thường. Nhà văn tiếp lời của Trung tướng Khuất Duy Tiến: “Chiến trường Tây Nguyên thời đó không chỉ đói cơm, đói gạo mà đói cả đời sống tinh thần (trong đó đói nhất là thư nhà). Các anh lính sinh viên đã sáng tạo ra cách làm báo tường độc đáo: viết những bài thơ trên thân cây luồng có trục xoay tròn xung quanh. Chỉ tiếc là trong các bảo tàng chiến tranh lại không có hiện vật này. Nguyễn Trọng Luân trước khi nhập ngũ đang là sinh viên nên anh viết văn, làm thơ từ rất sớm, khi còn đang ở chiến trường. Có những bài thơ hào sảng, hùng tráng vực dậy tinh thần bám trụ rừng để tiếp tục chiến đấu của đồng chí, đồng đội rất hiệu quả, dù có thể thời nay đọc lại, nhiều người cho rằng “đao to búa lớn” quá mức.”
Những người bạn lính đã cùng nhau ôn lại kí ức của một thời gian khổ, khắc nghiệt nhưng cũng lãng mạn, đầy khao khát về hòa bình, cuộc sống, tình yêu... Với họ, dù nói, dù kể hay viết ra rất nhiều trang sách nhưng cũng không thể nào lột tả hết được về tất cả những điều đã xảy ra trong chiến tranh. Những người lính dũng cảm hy sinh cho Tổ quốc, cho độc lập, tự do của dân tộc không cần biết là mình hy sinh, họ đã hành động như một lẽ tất yếu từ tình yêu đất nước rất bản năng, hồn nhiên và trong sáng.
 http://baovannghe.com.vn/rung-doi-loi-tri-an-gui-toi-dong-doi-15951.html

LÍNH VÀ RỪNG ĐÓI ( Lê Trung Nguyệt )



LÍNH VÀ RỪNG ĐÓI 
( Lê Trung Nguyệt )

Tôi cũng từng nghe một nhà văn nói rằng: " không bao giờ muốn giới thiệu những bài bình luân ca ngợi về tác phẩm của mình "
Có thể hiểu được điều ấy. 
Với chúng tôi những người lính không phải nhà văn viết về đời lính của mình thì lại khác. Chúng tôi nhận thức được rằng : Nếu có ai đó bình luận và nhìn nhận tác phẩm của chúng tôi ( những người lính viết như kể chuyện đời ) là họ đang nhìn vào thế hệ chúng tôi đã sống và chiến đấu thế nào.

Một người bạn tôi là con gái khi chúng tôi ra trận thì bạn ấy vào đại học đã viết dưới đây. Cũng như tôi, Nguyễn Khắc Nguyệt ( xe tăng) Như Thìn ( lính thành cổ) Vũ Công Chiến ( lính sư đoàn 968) Lê Trí Dũng ( lính binh chủng thiết giáp)
và đặc biệt là anh Phạm Phú Thái ( không quân ) ...Người viết coi những câu chuyện kể của chúng tôi là trầm tích của lịch sử Đánh Giặc Mỹ. 
Tôi giới thiệu bài viết dưới đây để bạn "phây búc" của tôi cùng đọc


*******
********************

LÍNH và RỪNG ĐÓI
Vonte bảo: “Với người sống chúng ta nợ sự tôn trọng, với người chết chúng ta nợ sự thật.” Các anh cũng bảo thế, và tất cả chúng ta cùng nghĩ thế. Chắc chắn vì điều đó mà những người còn được sống sót qua cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại này - những người lính từ mặt trận trở về đã không ngừng viết về hồi ức chiến tranh. Lính viết rất đa dạng, chân thật, phóng khoáng và cởi mở. Họ viết những điều họ đã sống, đã chiến đấu, đã hy sinh. Họ viết về những điều mà họ đã ý thức được và cả về những điều còn ở sâu trong tiềm thức từ hồi ấy - cách đây hơn 40 năm - nhưng hôm nay nó thức dậy mạnh mẽ, tỉnh táo và tươi tắn như chính sức sống tuổi 20. Có một “bí mật” tuyệt vời, đó là khi tiềm thức ở con người được đánh thức, thì ta sẽ gặp trầm tích quí giá. Đó là kho tàng tuyệt diệu ở mỗi con người, mà khi con người đó đã có đời sống “trẫm mình” nơi khó khăn kinh dị nhất, thì kho tàng đó được hiển lộ.
Mới đây nhất, có cuốn tiểu thuyết không hư cấu (tất cả các nhân vật trong truyện đều là có thật, và họ vẫn xuất hiện trong tiểu thuyết với tên tuổi thật của mình). Đấy là một thể loại truyện mới, xen kẽ giữa bút ký và kể chuyện, nó rất thực và rất “hão huyền”. Nó “hão huyền” ngay trong những chi tiết thực nhất, hiện hữu nhất của đời sống người lính trong cuộc chiến tranh khốc liệt nhất, dài ngày nhất. Đó là cuộc chiến tranh giữa “một siêu cường quốc” đánh “một tiểu vương quốc” giữa thế kỷ 20 bằng những hình thức quái gở nhất của sự phát triển tột bậc về kỹ thuật quân sự (với các loại bom đạn hiện đại, chất độc hoá học kinh dị và đến cả bom B.52 huỷ diệt).
Cuốn tiểu thuyết ở thể loại không hư cấu này, chính là “Rừng đói” của Nguyễn Trọng Luân. Anh là lính trinh sát bộ binh, tham chiến suốt “từ rừng ra biển”- chỉ 4 năm trong quân ngũ (1972-1975) với toàn bộ trải nghiệm hiện thực của một sinh viên năm thứ 3 Đai học Cơ điện Bắc Thái, anh đã viết về tiểu đoàn lính sinh viên của mình. Truyện như thế nào, mời các bạn đón đọc. Những cảm xúc riêng tư sẽ mang chúng ta trở lại với “bến bờ xưa kia”. Cái bến bờ mà ai cũng có. Bụt bảo rằng: “Bể khổ không bờ, quay đầu là bến.” Cái “bến ấy” sẽ đánh thức tiềm thức của thế hệ chúng ta (thế hệ kháng chiến chống Mỹ) với tất cả những gì sống động và tươi xanh nhất. Bởi hơn tất cả, chúng ta trở về “khai thác trầm tích của chính mình”- ở vỉa tầng gần nhất là “chúng ta đây” (chưa nói xa hơn tới cha ông thuở trước”.
Chúng ta có những tác phẩm “lính viết về lính”- đó là niềm tự hào to lớn về thế hệ mình. Chúng ta sống và chúng ta kể lại. Dĩ nhiên, mới kể được 50% sự kiện vô cùng đồ sộ của cuộc chiến thôi, đã là rất hay, rất đẹp, rất có trách nhiệm với đời sống dân tộc mình. Điều to tát nhất mà tôi bái phục “bút pháp” của các anh “lính viết về lính”, đó là không có cái tôi nào tự xưng danh vỗ ngực, nhưng mọi cái riêng biệt nhất của cá nhân người lính - đúng nghĩa một con người đều được hiển lộ và toả sáng. Chính vì vậy, những người đọc cùng thế hệ kháng chiến chống Mỹ ai cũng thấy được mình trong đó. Ai cùng thời đó (dù không là người trong cuộc với các anh lính ngoài mặt trận) đọc cũng phải khóc, phải cười, phải đau đớn, phải tự hào, tự tin vào bản thể trường tồn của “con dân nước Việt”.
Tại sao lính viết? Họ không phải là nhà văn, họ cũng không có điều kiện thời gian để tiếp xúc nhiều với văn học. Trên tất cả, là họ sống, chiến đấu trong lửa đạn, nhưng “may mà họ không chết”. “Thoát chết” là phải viết lại, ai bị “trời chỉ định” điều đó (ngẫu nhiên thôi) thì “phải” cầm bút mà làm việc - họ viết, và lại thêm một lần nữa họ sống, chết, vào sinh ra tử cùng đồng đội. Họ “vạc người” ra để viết. Vâng, họ bị “trời đày” để thực hiện cái điều là: trả lại sự thật cho người chết, và trả sự biết ơn cho cuộc đời này, cho tình người này - tình của những người lính với nhau -với nhau trong lửa đạn, trong đói khát, thì đó chính là lúc hiển lộ rõ nhất mọi góc khuất của mỗi con người. Họ là một lớp thế hệ vàng của dân tộc ta.
Chúng ta hôm nay đọc sách “lính viết về lính” chính là chúng ta đang được chiêm bái những mầm xanh từ trong “cặn lắng”. Qua cách viết của họ, dù cách gì chăng nữa, ta vẫn thấy những mầm xanh bật lên. Người viết đã “chắt lọc” tất cả qua trái tim họ, cách nhìn, cách cảm của họ với con người, với cuộc chiến đấu một cách gần gũi nhất, rốt ráo nhất, máu thịt nhất - bởi đó chính là máu xương của họ và của cả non nước này.
Nguyễn Trọng Luân đã tự gánh lấy cái “hạnh phúc kẽo kẹt” trong hành trình còn lại tiếp tục của đời người lính, đó là “nhớ đồng đội”. Nhớ đồng đội cũng là “nỗi nhớ chính mình” suốt một thời tuổi trẻ. Vì vậy, anh đã viết rất chân thực. Trong mọi phương diện ở các tác phẩm của Nguyễn Trọng Luân, với những thể loại khác nhau như bút ký, truyện ngắn, thơ v.v., đều đọng lai “cái đẹp rất lính”. Cái đẹp ấy sẽ được cảm thấu rất đa diện, ở những tâm hồn riêng biệt phong phú của bạn đọc từng lứa tuối khác nhau.
*
* *
Điều mà tôi muốn nói tới trong tiểu thuyết “Rừng đói” chính là giá trị vĩnh cửu của những chi tiết cụ thể, hiện thực và rất nhỏ bé của đời sống chiến tranh - của các chiến sỹ ngoài mặt trận. Họ thiếu tất cả mọi thứ (thứ để ăn, thứ để mặc và thậm chí cả súng đạn nữa). Họ chỉ thừa một thứ - đó là “dũng khí liều mình như chẳng có”. Đó cũng chính là “bí mật huyền thoại” của dân tộc Việt - huyền thoại Thánh Gióng từ ngàn xưa đã nói lên một phần định mệnh của chúng ta… Cứ có giặc ngoại xâm là chúng ta “lớn như thổi”.
Trong “Rừng đói” tác giả kể miên man, miên man “chất người”, miên man đói, khổ, bệnh tật và chết… Nhưng với cách viết cứ tênh tênh, thì khi gấp sách lại chỉ còn trong ta những chi tiết rất cô đọng về một thế hệ lính đánh Mỹ - chính nó đã làm nên sự trường tồn của lịch sử, của truyền thống tiếp diễn liên tục của một dân tộc có tên tuổi trên bản đồ thế giới.
Tất cả những tính từ hoa mỹ không tồn tại trong quyển sách này. Cái bản chất sống căn cội nhất của con người là “phải ăn, mặc, ở, rồi mới nói đến chính trị khoa học nghệ thuật…”. Vâng, nhưng đây là “Rừng đói” những người lính đóng quân (sống) trong rừng và đang đói, đang đi tìm cái ăn cho chính mình và cho cả những đơn vị bộ đội ở tuyến trước đang giáp trận với quân địch từng ngày. Chỉ thế thôi, sự giản lược đến tận cùng của đời sống con người là “đi bới sắn để sống” và tiếp tục chiến đấu. Không thể dẫn chứng được một chi tiết “đắt giá” nào trong tác phẩm - vì tất cả mọi chi tiết nhỏ nhặt nhất trong “Rừng đói” đều rất “đắt giá” - thật sự “đắt” lắm, vì đó là “sống giữa cái chết”, chứ không phải là “sống giữa đời sống”. Khi đọc quyển sách này ta thấy từ trong lòng đất tất cả mạch sống đang dâng trào, đang vĩnh viễn như sự “vĩnh viễn ngắn ngủi” của một kiếp người, nhưng là sự bất diệt của một nòi giống, một dân tộc.
“Sự vĩnh cửu” bao giờ cũng là rất cũ, nó là ký tự vĩnh hằng của một đời sống - để khẳng định rằng nó là “cái có” - “cái có” chính là từ khoá để mở cánh cửa tâm hồn của một dân tộc.
Hiềm một nỗi, con người hay thích mới, nhưng giữa “mới” và “cũ” nhiều khi là sự đối nghịch đến huỷ diệt. Một “trò chơi ú tim của Thượng đế”: đánh mất mình, rồi lại tìm mình - nhưng “mình vẫn đây thôi, đừng tự phá huỷ”. Sẽ không có nghĩa lý gì khi hàng trăm năm sau, du khách trên khắp thế giới đến thăm nước Ý, mà lại không được nhìn thấy những đấu trường đấu bò tót hàng bao thế kỷ trước. Người ta sẽ không hình dung ra các hiệp sỹ đã “chiến” với bò tót như thế nào, và thời đó con người đã vĩ cuồng đến mông muội để có thể coi một mạng sống của người như một mạng sống của con bò!? Chứng tích “văn hoá vật thể” đã nói lên tất cả. Việt Nam chúng ta “đã có” nhà tù Hoả Lò ở Hà Nội, một kiểu nhà tù điển hình của chế độ thực dân cũ tại các nước thuộc địa từ thế kỷ XIX. Đấy là một trong những mô-típ kiến trúc rất điển hình về biểu tượng của sự áp bức dân tộc và đấu tranh giải phóng dân tộc. Ở đó có những bài học sâu sắc của một nước Việt Nam thuộc địa đã bất khuất đứng lên giành độc lập, mà nhân loại còn cần phải hiểu biết từ đó rất nhiều điều. Thế nhưng, nhà tù Hoả Lò đã được “thay cũ đổi mới” như chúng ta đang thấy… Và có hàng “N” những dẫn chứng để nói lên rằng có những “phế tích” chính là “trầm tích quý báu” của đời sống mỗi dân tộc. Không được phá bỏ nó, dù nó đã cũ rích - sự “cũ rích” khơi dậy nguồn cảm hứng cho mọi người, thì đó chính là sự trường tồn vượt qua tất cả.
“Rừng đói” cũng như hàng loạt những bút ký, hồi ký, những truyện của “lính viết về lính” - chính là kho tàng “văn học sử” mà chúng ta hôm nay cũng như các thế hệ mai sau phải “biết về nó”. “Rừng đói” đã nói được quá nhiều những chi tiết quý giá và vô cùng giản dị để hôm nay chúng ta hiểu được “sự thừa mứa là gì”. Tất cả 31 nhân vật trong sách là 31 cuộc đời rất thực. Ở “Rừng đói” họ là đại diện cho cả một thế hệ hy sinh tất cả vì độc lập thật sự của dân tộc này. Họ là những người lính của “tiểu đoàn mót sắn”, họ là lính bộ binh, nhưng trong thời gian nhất định của bối cảnh mặt trận Tây Nguyên 1970-1974 là rất đói. Họ “tìm cái ăn” bổ xung cho mặt trận phía trước, và đợi dồn quân số dần từ tuyến sau lên bổ xung cho tiền phương để xung trận. Trong từng trang ta đều gặp những dòng viết làm ta vừa cười vừa khóc (xin độc giả tự đọc và tự cảm không thể trích dẫn hết ở đây).
Họ là lính bộ binh, họ đói đến thế trong những thời đoạn cam go nhất của chiến tranh, lương thực không thể tiếp tế từ hậu phương ra tiền tuyến kịp thời - và liên tưởng tiếp đến các binh chủng khác, khi ta tiếp tục đọc những tác phẩm “lính viết về lính” ta sẽ gặp những binh chủng khác, họ được ăn ngon và đầy đủ bổ dưỡng để họ bay trên những chiếc máy bay tiêm kích, cường kích, MIG 17, MIG 21 để đánh chặn máy bay oanh tạc của Mỹ ở chiến trường khu 4, giành lại từng chặng đường “huyết mạch” cho xe qua để tiếp tế đến mặt trận lương thực và vũ khí, để những binh đoàn bộ binh hành quân liên tục ngày đêm, để công binh kịp làm đường cho tăng thiết giáp vào trận…và họ là những “lính bay” luôn “chết rơi” - họ rơi từ trên mây xuống biển…
Không thể nói gì hơn nữa về tất cả những người lính dũng cảm hy sinh cho Tổ quốc này. Họ hy sinh không cần biết là mình hy sinh, họ hành động như một tất yếu sống rất hoàn chỉnh giữa các mặt của bản năng Người. Họ yêu Tổ quốc rất bản năng, bởi Tổ quốc không cho họ gì cả, và họ cũng không chờ đợi gì từ Tổ quốc. Tổ quốc chỉ tồn tại như “một tất yếu thiên định”. 
“Tổ quốc là mảnh đất Trời cho
Nơi ta cư ngụ một kiếp người”
Nhà nước có thể gắn huân chương lên ngực áo, có thể ban cho phần thưởng, bổng lộc - còn Tổ quốc thì không, nó chỉ hiển hiện trong tình yêu của từng cá thể. Bởi Tổ quốc là định mệnh của kiếp người - cái định mệnh hiển nhiên mà ai cũng phải gắn kết như họ tộc, gia đình, cha mẹ.
Có một nhà văn Hung-ga-ri đã nói: “Người nào yêu Tổ quốc, người ấy yêu một số phận”. Vâng, tôi hoàn toàn nhập hồn với nhà văn này. Khi đọc những tác phẩm “lính viết về lính” như: “Mùa hoa đỏ” của Nguyễn Như Thìn; “Những hòn cuôi dọc đường” của Lê Trí Dũng; “Bút ký lính tăng - hành trình đến Dinh Độc Lập"” của Nguyễn Khắc Nguyệt; “Trung đoàn 10 Rừng Sác anh hùng” của tập thể tác giả trung đoàn đặc công; “Lính bay” của Phạm Phú Thái; và “Rừng đói” của Nguyễn Trọng Luân. Những người lính, họ chính là những người đã ôm trọn “số phận của mình” một cách trân quý nhất, họ có trách nhiệm với Tổ quốc này.
Họ, lớp người ấy, lớp người “lính chống Mỹ” ấy - đã sống và đời còn “bắt” họ phải viết, tiếp tục viết về thế hệ mình. Họ viết càng chân thực, càng khốc liệt, càng kiêu hùng và từ ái bao nhiêu, thì càng có ĐIỂM TỰA để cho ta có lực bật tung một sức đè nén rất nặng nào đó trong cuộc trường sinh dân tộc này. “Hãy cho ta một điểm tựa” - chính là những người lính trong trận mạc “từ trên rừng xuống dưới biển hay trên bầu trời” - và tất cả dải đất hình S này có còn nữa hay không là chính ở sự cảm nhận, sẻ chia, đồng điệu, khóc, cười, đau thương, kiêu hãnh, tự hào cùng với những tác phẩm “lính viết về lính” mà chúng ta được đón đọc trong những tháng năm này. Những tháng năm mà, có lẽ hơn lúc nào hết, ta phải tự hiểu, “tự vịn vào mình mà bước”. Quả thật, những người lính vẫn luôn “bám vào tay đồng đội” để tiếp tục đi trong thế gian này, tiếp tục bồi đắp nhũng vỉa tầng rất sâu của “trầm tích một dân tộc”.

HN 12/2016 
Lê Trung Nguyệt

“ĐIỂM BÁO” NHỮNG TÁC PHẨM ĐÃ IN CỦA 
NGUYỄN TRỌNG LUÂN

“Những người bạn lính” lên đường
“Trăng tháng Chạp” hành quân vào tuyến lửa
Ngước nhìn “Mây trên trười Quảng Trị”
“Viết cho mùa thu” bài thơ tình để lại
Trên bức tượng “Bóng đổ nhà mồ”
Để rồi “Truyện lính sau 40 năm kể lại”
Khắc ghi “Ký ức từ một mái trường lửa đạn”
Ký ức tràn về mãi “Gọi Tây Nguyên”
Đắm chìm trong “Khoảng lặng”
“Hồi ức lính trận” bật thức
Tìm về “Rừng đói”
Để ta nói với mình - nỗi cồn cào - bát cơm trắng hôm nay !
Lê Trung Nguyệt.

NGƯỜI ĐI TỪ TRONG RỪNG RA VIẾT VĂN ( Bùi Việt Thắng )

NGƯỜI ĐI TỪ TRONG RỪNG RA VIẾT VĂN

( Bùi Việt Thắng)



1.
Đọc nguyentrongluan.blog, tôi thích câu chuyện anh kể lúc mới mười tuổi (nhưng đã là anh cả của 5 anh em), theo mẹ lần đầu đi chợ tỉnh Yên Bái. Hai mẹ con thức dậy từ quá nửa đêm, đi bộ hơn mười cây số, đến nơi sớm quá bị ông gác cổng chợ còn ngái ngủ phang ngay cho một câu tóa đóm “chợ chưa họp kẻ cắp đã đến!”. Thương con, khi bán hết hàng, người mẹ mua cho một bát ca-ri, giá 8 hào, hết những 4 cân nhãn bán bù tiền vào đó. Con trai, trước đó thì đi xúc cua, bà mẹ thì chăm nhãn, dành dụm đi chợ tỉnh mong đổi hàng lấy tiền (của đáng tội, riêng nhãn thì người ta nếm nhiều hơn mua, nên thu về chả được bao nhiêu, may mà cua người ta không nếm được). Mới mười tuổi mà can trường, hay lam hay làm ( cũng một cái vó to như của người lớn). Nhắc lại điều này để thấm thía một nguyên lí tối giản – nhân cách con người được định hình trong tuổi ấu thơ. Lớn lên trong gian khổ, thiếu thốn và chiến tranh, bom rơi đạn lạc, Nguyễn Trọng Luân, người cùng thế hệ chúng tôi đã qua trui rèn “lửa đỏ và nước lạnh”. Học hết năm thứ hai trường Đại học Cơ Điện Bắc Thái (khoa Cơ khí), Nguyễn Trọng Luân, như nhiều bạn bè cùng trang lứa “xếp bút nghiên theo việc binh đao”. Đó là năm máu lửa 1972. Vào mùa hè nóng rẫy. Năm mà hàng ngàn sinh viên đại học nhập ngũ. Cuộc chiến bước vào giai đoạn quyết liệt chưa từng thấy. Nhiều người trong số họ không trở về sau 1975, tiêu biểu như nhà thơ Vũ Đình Văn (sinh viên Đại học Sư phạm Hà Nội), như anh Nguyễn Văn Thạc (sinh viên Đại học Tổng hợp Hà Nội). Nguyễn Trọng Luân thuộc số người may mắn trở về sau chiến tranh. Anh coi đấy là hạnh phúc. Học tiếp ở ngôi trường nơi mình ra đi. Lại học tiếp một trường nữa, thuộc hệ thống trường Đảng. Nhưng ra trường lại rẽ sang lối khác. Những tưởng suốt đời gắn với chuyện kinh doanh lấy lời lãi làm chính trong tư duy. Từng làm Giám đốc công ty. Nghĩa là từng có địa vị, tiền tài dẫu cho anh là người liêm khiết thì cái may mắn, cái lợi lộc nó vẫn cứ đến một cách tự nhiên. Nhưng nếu theo cái sơ đồ ấy thì có lẽ cái tên Nguyễn Trọng Luân cũng sẽ chìm nghỉm đi trong ngàn vạn cái tên bình thường khác. Và bây giờ thì anh sinh hoạt trong Hội Người cao tuổi!? Hình như số phận đã định đoạt. Nguyễn Trọng Luân phải cầm bút viết văn thì mới định vị mình được giữa bao la cuộc đời này. Tuy nhiên đó chưa phải là điều quan trọng nhất. Tất nhiên, khi cầm bút viết văn, tôi nghĩ, tự bạch của Nguyễn Trọng Luân là đáng tin cậy: “Tôi viết không phải là văn cho tôi mà là lời đồng đội đã hi sinh bảo tôi viết thế”. 
Tôi có cái cảm giác một lúc nào đó, từ rất lâu rồi, từ ngày mới cầm bút viết văn, Nguyễn Trọng Luân cứ bâng khuâng, chung chiêng giữa đôi bờ văn thơ. Trong một bài thơ gần đây đăng trên blog cá nhân, Nguyễn Trọng Luân vẫn cứ đau đáu với hoài niệm quá khứ: “Đừng vội nói chúng tôi ăn mày dĩ vãng/Dĩ vãng của chúng tôi là máu đất nước này/Tôi dạy con mình trong mỗi ngày khó nhọc/Bố con mình cũng chỉ kẻ ăn vay” (Bài thơ về “Tháng chiến binh”, viết ngày 7-12-2016). Trong số 11 tác phẩm trình làng văn (từ năm 2009 đến 2016) của Nguyễn Trọng Luân, tôi “đếm” được 4 tập thơ và 7 tập văn. Con số này nói lên một thực tế, dẫu sao thì Nguyễn Trọng Luân vẫn “kết” văn xuôi hơn thơ ca. Nói thế, tôi không có ý phân biệt sang hèn, cao thấp. Ơ đây là vấn đề sở trường và sở đoản. Riêng tôi nghĩ, văn xuôi mới là sở trường của Nguyễn Trọng Luân.

2.
Tiểu thuyết Rừng đói (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2016) vừa ra mắt độc giả, còn thơm mùi mực. Một cuốn tiểu thuyết đầy tính chất “lính trận”. Có cái vẻ ngoài mộc mạc đến thô ráp, ngổn ngang như là cố ý, giản dị như là nguyên tắc viết về chiến tranh. Dễ dàng có thể xếp loại Rừng đói vào kiểu “văn chương phi hư cấu”. Nhưng đừng tưởng dễ dàng cứ thế mà viết ra một cách tự nhiên, nhi nhiên. Có thể là không bịa đặt, phóng đại, không hư cấu theo nghĩa bình thường. Riêng tôi, vẫn nghĩ đã là sáng tác văn chương là cần có hư cấu. Trong một lần tao ngộ văn chương gần đây anh chia sẻ thật thà: “Tôi viết Rừng đói chỉ trong vòng một tháng là xong. Viết như lên đồng. Viết xong tôi kết cấu lại và tự đặt là tiểu thuyết”. Đó chính là con đường và cách thức hư cấu đấy thôi. Qua câu chuyện văn chương với các nhà văn mặc áo lính, không chỉ riêng tôi cho đến nay rút ra được một nhận xét có tính chất vừa lý thuyết vừa thực tiễn: Có ba kiểu nhà văn viết chiến tranh. Kiểu thứ nhất là những nhà văn có tài, họ quan sát chiến tranh rất sắc bén, nhanh nhạy, cảm hội chiến tranh bằng trí thông minh. Họ thực hiện công thức “Đi - Đọc - Viết”. Họ viết chiến tranh chủ yếu bằng suy nghiệm. Nhưng không vì thế mà độc giả không thích đọc tác phẩm của họ. Kiểu nhà văn thứ hai là “lính trận” chính cống, chính hiệu. Họ là người trải nghiệm chiến tranh bằng chính máu xương của mình và đồng đội. Tác phẩm của họ chinh phục độc giả bởi tính chất tươi nguyên, trung thành của chất đời. Họ ít hư cấu, bịa đặt. Thậm chí viết theo nguyên tắc “phi hư cấu”. Độc giả thấy nhà văn viết như là “nhúng tay vào sự thật”. Sự thật trong tác phẩm thường là “sự thật chiến hào”. Kiểu nhà văn thứ ba là lớp “sinh sau đẻ muộn” (thế hệ 7x là một ví dụ). Họ viết chiến tranh chủ yếu bằng trí tưởng tượng . Họ viết chiến tranh theo cách của mình nên đôi khi không tránh khỏi tùy tiện. Nên cùng lúc có nhiều cách viết chiến tranh là lẽ thường tình. Thậm chí có người còn đinh ninh “chưa biết mèo nào cắn mỉu nào”.


3.

Riêng tôi, khi tiếp nhận Rừng đói của Nguyễn Trọng Luân, là nghĩ tới phương châm viết của văn hào Nga thế kỷ XIX, L. Tolstoy, tác giả của kiệt tác Chiến tranh và hòa bình. Ông viết, đại ý, nhân vật mà ông yêu mến và quan tâm nhất khi viết là SỰ THẬT. Tôi nghĩ, Rừng đói của Nguyễn Trọng Luân được viết theo nguyên tắc phụng sự duy nhất chỉ sự thật. Đọc những trang văn của Nguyễn Trọng Luân trong Rừng đói tôi nhớ tới những câu thơ chát chúa, rớm máu, nhỏ lệ của nhà thơ Thôi Hữu trong bài thơ Lên Cấm Sơn viết trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp: “Cuộc đời gió bụi pha xương máu/Đói rét bao lần xé thịt da/ Khuôn mặt đã lên màu bệnh tật/Đâu còn tươi nữa những ngày hoa/Lòng tôi xao xuyến tình thương xót/Muốn viết bài thơ thấm lệ nhòa/Tặng những anh tôi từng rỏ máu/Đem thân xơ xác giữ sơn hà”. Cảm thán quá chăng? Tôi nghĩ là không! Tôi đã có cơ hội đọc được nhiều tác phẩm viết chiến tranh của nhiều thế hệ nhà văn Việt Nam. Tôi thích cách viết của Lê Khâm (sau này đi chiến trường ông lấy bút danh Phan Tứ) trong tiểu thuyết Trước giờ nổ súng. Cái hay của tác phẩm là rất ít tiếng súng ùng oàng. Cũng không có cảnh người chết trận vì chưa vào trận. Không có khói lửa. Là bởi “trước giờ nổ súng” thì cái tâm trạng của con người mới điển hình. Tôi lại cũng thích cách viết về những dư âm, hậu quả của chiến tranh như Cỏ lau của Nguyễn Minh Châu, hay những “nỗi buồn chiến tranh” như tên một tiểu thuyết cùng tên của Bảo Ninh. Nghĩa là tôi thích đọc cách viết ở đó chiến tranh được nhìn từ nhiều phía, có khi như thể là ở ngoài chiến tranh. Vì thế mà chuyện một tiểu đoàn sinh viên trong vòng 100 ngày chỉ có mỗi việc đi đào sắn, chế biến thô sơ rồi “cõng” về cho các đơn vị chủ công ở phía trước thì có gì đáng để viết? Sẽ có người phàn nàn tưởng viết về chiến tranh là thế nào, hóa ra là chuyện miếng ăn, cái đói. Nhưng đừng quên chuyện miếng ăn và cái đói không hề nhỏ nhặt. Viết về nó mà Nam Cao trở thành văn tài và có những kiệt tác để đời như Một bữa no đấy thôi. Nhưng máu thì vẫn đổ. Vẫn có không ít người mãi mãi tuổi hai mươi trong khi đi cõng sắn về tiếp viện cho đồng đội. Có lẽ sự vĩ đại lại chính là ở đây, từ những công việc có vẻ tầm thường nhất trong đời sống. Nguyễn Trọng Luân chia sẻ: “Khi còn ở chiến trường, tôi đã cho là chiến tranh là ở chỗ không có tiếng súng. Là mẹ tôi, là em tôi, và những người mẹ, người vợ. Tôi không thích những tác phẩm chiến tranh tỏ rõ là ác liệt, rõ là lâm li về hi sinh của nhiều người ngoài trận tiền. Là người chiến đấu nhiều trận, nên khi đọc đùng đoàng súng nổ và chết chóc chưa bao giờ tôi thấy mình xúc động mà cứ thấy cái sống lưng mình sường sượng. Sự thể ấy có thể: 1- Người viết không trung thực. 2- Văn chương đích thực không ở chỗ đó. Nó ở chỗ làm con người YÊU, NO ẤM, VƯƠN LÊN, SUNG SƯỚNG HƠN”. Tôi nghĩ, viết chiến tranh với Nguyễn Trọng Luân như là cách nhìn vào mặt sau tấm huy chương.

Hiểu được quan điểm sống và viết của tác giả, độc giả sẽ thẩm thấu vào Rừng đói sâu sắc hơn, tôi nghĩ như thế khi đọc xong tiểu thuyết rất đáng đọc của Nguyễn Trọng Luân. Tác phẩm ngồn ngộn chi tiết sống. Nhưng không làm ta thấy rối ren. Vì cái “sợi chỉ đỏ” của nó rất nổi bật – chủ nghĩa lạc quan chiến đấu, niềm vui sống, tình cảm tha thiết với quê hương đất nước. Trong một cuốn sách xuất hiện gần đây, có người đã viết như là đay nghiến về một thời “nếu cây cột điện biết đi thì nó cũng di tản”. Nếu người đó đọc Rừng đói của Nguyễn Trọng Luân, tôi nghĩ, có thể phải hối hận. Này đây, những người lính trẻ mười tám, đôi mươi đi đào sắn, cõng sắn về cho đồng đội có cái ăn để chiến đấu, khi đứng chân bên đất bạn đã: “Chả biết người đi ngoại quốc có cái cảm giác giống của chúng tôi không? Chỉ sâu ở trong đất người có vài ba chục cây số thôi mà một chiều ra bờ sông biên giới nhìn sang bên Gia Lai đã thấy nao lòng. Thấy như sắp về làng mình đến nơi (…). Nhìn khói đốt nương bên kia biên giới mà cứ ngỡ như mẹ đốt rạ ngoài đồng sau vụ gặt”. Đọc Rừng đói, lạ thay thấy tiếng cười của lính trận vang lên, lúc thì “ràn rạt”, lúc thì “tóe lên”, lúc thì “sèn sẹt”,…Thấy thật đã đời.
Gấp lại trang cuối tiểu thuyết Rừng đói, mọi chuyện gian nan, đói khổ, chết chóc dường như qua đi. Với tôi chỉ còn lại nụ cười chiến thắng của những người lính bình thường mà vĩ đại. Đó là thành công của nhà văn mặc áo lính Nguyễn Trọng Luân. Tôi nghĩ sẽ có nhiều người nghĩ như tôi./.
Hà Nội, tháng 12-2016