Thursday, October 5, 2017

BẠN CŨ




Ngày ấy tôi đi chân đất đến trường. Lần đầu tiên thấy bạn bè nhìn tôi ngờ vực cũng tức. Rồi sau biết họ nhìn mình đi chân đất lại càng tức. Vào lớp 8 ( lớp 10 bây giừ) con gái đã phổng phao còn mình vẫn cóc cáy. Xóm trọ của chúng tôi đầy những bộ đội Trung quốc sang làm đường sắt và trực chiến tàu bay Mỹ. Có một nhóm 3 thằng xã Cường Thịnh nói tiếng Trung nhoay nhoách với người Trung quốc đâm nể. Trong số đó có một bạn tên Tùng. Nghe nói bố nó làm trong ban chỉ huy công trường 130 lại càng nể. Học với nhau chừng ba tháng thấy anh em tôi học cũng được mọi người bớt cười cợt chuyện chân đất chân chim. Chúng tôi ngày ngày đi về qua một cánh rừng đầy măng và đôi khi gặp cả những đàn hươu nhở nhơ gặm cỏ. Tùng trắng và nói nhẹ nhàng. Đặc biệt là không bao giờ nói tục. Nó đá bóng rất giỏi và biết đánh bóng bàn. 
Đã nhiều lần, chủ nhật anh em tôi không về nhà mà đi theo Tùng lên Cường Thịnh, nơi ấy họ đang xây dựng sân bay Yên bái. Chúng tôi đi vào rừng lấy rễ ăn trầu về bán . Mỗi chủ nhật cũng được 8 hào đến một đồng. Nhờ thế mà biết nhà Tùng. Bố mẹ nó rất thương chúng tôi vì đã phải đi rừng kiếm tiền ăn học. Trong món quà ông bà cho tôi có viên pha ra làm nước chấm . Tôi chỉ nhớ cái hộp đó đề chữ KoSky . và cứ gọi là viên cốt ki. Hồi ấy có cô bạn Tên HP học giỏi văn rất thích Tùng. Tùng bẽn lẽn sợ, cứ nhìn nhau là Tùng lắp bắp. Càng thế chúng tôi càng trêu già. Tùng cáu. 
Đầu năm 1968 khi sân bay hoàn thành bố mẹ Tùng về hà nội nhưng Tùng vẫn học nốt lớp 10 ở YB để đi đại học. NHững lá thư có địa chỉ B2 F39 khu TT kim Liên mà bọn tôi được xem của bố mẹ Tùng làm tôi nhớ mãi. Nhớ vì một cái tên lạ lẫm Hà nội mà chưa bao giờ mình được tới. Mùa hè năm 1969 chia táy nhau . Tôi nhận thư Tùng là đã nhập ngũ và huán luyện ở Ninh Bình rồi đi B. Hóa ra bạn có giấy báo đại học SP HN cùng với giấy báo nhập ngũ. Chúng tôi xa nhau từ đấy. Tôi viết thư cho Tùng qua địa chỉ anh Thanh là anh cả của Tùng làm ở nhà máy gỗ Cầu Đuống. Năm 1972 trên đường đi B hành quân qua Cầu Đuống tôi chạy vào cửa bảo về hỏi anh Thanh. Tôi chào anh và lên đường. Anh cho một bao thuốc Tam Đảo . 
Nửa thế kỉ trôi qua , vùn vụt những mưu sinh vật vã. Một ngày tôi đọc trên phây búc người bạn Vị Xuyên thấy nhắc cái tên Cường và B2 F39 Kim Liên tôi nhớ đến Tùng. THê là chỉ sau một ngày tôi nhận ra Cường là em bạn tôi. Tôi biết được Tùng đã nghỉ hưu từ năm 2005 sau khi dậy học ở TP HCM. Suốt đêm qua bao nhiêu hình ảnh từ hơn nửa thế kỉ trước hiện về. Tùng từng giúp đỡ anh em tôi lúc khốn khó. Bạn tôi giờ ở tận Nhà Bè TP HCM . Tôi mong ngày hội trường 3A cuối năm nay chúng tôi lại trở về YB nơi mà hơn nửa thế kỉ trước chúng tôi đã sống bên nhau.

( Tùng đứng bìa trái hàng trên cùng)

26/9/2017

BÀ CÚN VỀ QUÊ.


Năm trước ông Cu đi tìm mộ đồng đội tận CPC gặp được bà Cún ở “Sè gòn” thì năm sau bà Cún từ “Sè gòn” về quê.
Cữ này giăng sáng lắm. Gần đến rằm trung thu vườn đồi nhà ai cũng thơm thơm. Con đường làng chỉ những mùi nước đái trâu, mùi phân trâu cũng bỗng trở nên dễ ngửi.
Hồng và bưởi ngoài chợ thì ê hề thế mà bưởi và hồng trong vườn nhà Cu vẫn chưa chín. Quả hồng treo như cái bánh sắn vụ đói cứng ngăng ngắc và trái bưởi thì đợi mãi chả thấy rám má. Cu ra vườn rồi trở vào lẩm bẩm. Mẹ kiếp ngày xưa với ngày nay thế chó nào mà nó lại khác nhau? Bố ai chịu được.
Cún về làng, nhà Cún chả còn ai ở làng. Người nhà Cún ra tỉnh hết rồi. Cún sang nhà Cu ăn cơm, Cún ngủ ở nhà Cu một tối, mai Cún xuôi về Thủ đô.

***
Tháng tám trời trong. Cún nhớ là một bài học ngày xưa dậy thế. 
Cún gọi:
- Anh Cu ơi, liệu có mưa không? Giăng có sáng không? 
Cu đang kho nồi chám dưới bếp ngỏng lên:
- Chịu chả thể biết, mưa nắng bây giờ không còn là mưa nắng ngày xưa nữa. 
Thằng con trai ông Cu đang quét sân bảo:
- Cô ơi bây giờ ô nhiễm môi trường , lại còn ô nhiễm cả thể chế thì làm sao mà giống ngày cô và bố cháu hát bài chú cuội chơi giăng nữa. 
- Sư bố nhà anh. Ai bảo là thể chế ô nhiễm. Các anh ăn cho lắm vào mà rửng mỡ mà nói xấu chúng tôi , nói xấu chế độ. 
Giăng lên thật. Mặt giăng chỉ ló sau ngọn cau nhà Cu mà Cún đã kêu lên:
- Anh Cu ơi giăng kìa!
Cu bê thức ăn ra hè cười khẩy: 
- Tưởng gì, giăng thì vẫn thế có gì mới đâu Cún à. 
Cún rưng rưng.
- anh ơi mấy chục năm nay em có nhìn thấy ông giăng đâu mừ. Ôi em nhớ ngày nớ anh hát ông giẳng ông giăng ông giằng búi tóc quá anh Cu ơi.
- Thế cô nhìn thấy cái gì mỗi tối hả Cún? 
Ngoài vườn con “ nhanh nhanh” đã kêu . Tiếng kêu của nó cứ rối tít bòng bong.

*******
Ngồi ở hiên nhà ăn cơm tối nhưng Cu chỉ bật một bóng đèn soắn ruột gà loại tiết kiệm điện. Ánh sáng chỉ hơn đèn dầu ngày xưa tí chút. Cún bảo, anh ơi ngày xưa có giăng là nhà ai cũng tắt đèn để khỏi mất tiền mua dầu anh nhỉ. Ông Cu sới cơm cho bà Cún. Giục, ăn đi ăn cho nóng. CU gắp thịt chó nhựa mận cho Cún. Bà giãy lên, anh Cu ơi em không ăn được món nì. Em bị tiểu đường.
Cu sững lại. Cún bị … gì hở Cún?
Cún nói kiểu xưa, em bị đái đường mà Cu. 
Cu giật thót người. À nhớ rồi, nhớ rồi. Cái bệnh "đái đến đâu ruồi bâu đến đấy" . Ông Cu nhớ lại ngày xưa bố mẹ kể chuyện các bà vợ quan Huyện quan Tỉnh hay bị bệnh này. Bệnh nhà giàu. Chợt Cu nhớ hôm đi lấy mộ đồng đội, vào nhà Cún trong sè gòn. Cún giàu lắm. Nhìn Cún phôm phôm pháp pháp ăn uống toàn cao lương mĩ vị . Nhà kín, đánh phát rắm thối um cả nhà , vậy nên mắc bệnh này là phải. Tự nhiên Cu bật ra nói một mình.
Bố khỉ!. Lúc ấy khóe mắt Cu có một giọt nước rị ra đọng lại. 
Cu gắp chám kho cá diếc cho Cún. Bà Cún cười :
- Anh Cu nì, chám là kho với cá diếc mới ngon hỉ ?
- Đúng quá Cún à. Cái gì cũng có đôi của nó . Âm thì dương mà dương thì âm . hì hì
Bên đồi trẻ nhà ai hát ríu ran
« … ông giăng xuống chơi với thày.
.thì thày cho mõ
Xuống chơi với chõ
thì chõ cho xôi

xuống chơi hàng nồi
hàng nồi cho vung
………………
….Đến cái đoạn :
.. xuống chơi đàn ông 
đàn ông cho vợ
xuống chơi với chợ
thì chợ cho vua 
xuống chơi với chùa 
thì chùa cho phật … 
thì bà Cún đặt cơm xuống. Bà ngước lên nhìn ông Cu cóc cáy. 
- Anh Cu ơi sao mà người ta cứ cho hết cái người ta không thể thiếu … thể anh nhỉ. Về quê em mới thấy cái chuyện này. Ở thành phố chả ai dạy con mình thế đâu anh Cu à ?

Ông CU nhìn mặt giăng mon men đến ngọn cây chám trong vườn. Tâm trí Cu sáng láng ra. Cu bảo;
- Cún không nghe không nhớ đoạn cuối của bài hát trẻ con này ư Cún ? đó ...đó chúng nó hát đến đó … đó.

Tiếng lũ trẻ nhà bên réo rắt :
« … giả phật cho chùa 
giả vua kẻ chợ…
giả vợ đàn ông ,
giả chồng con gái, 
giả trái cây cà,
giả hoa cây bưởi…
.giả lưỡi cần câu….
………
giả mõ ông thày … 
ba hồi chín cốc mà bay lên giời » 
Ông Cu bảo bà Cún :
- Con người ta yêu nhau đến nỗi không tiếc nhau cả thứ quí nhất trên đời. Nhưng không ai nỡ lại lấy đi cái quí ấy nên họ đều mang giả lại đó Cún ơi . Giả lại rồi, vui quá sướng quá, yêu quá mà bay về giời. Bay về giời lại nhìn xuống mà yêu mà thương mà nhớ cái trần gian đầy nhiễu nhương thương nhớ . Ông Cu nói như phê rượu cuốc lủi:

- Ông giăng yêu nhà quê mình là thế Cún nờ.
*****


Miếng chám bùi trong miệng bà Cún như đọng lại keo lại cả chùm nhời bài hát lũ trẻ con nhà quê ngấm màu trăng rất cũ. Bà Cún ngước lên ngọn cây ngoài vườn. Mặt trăng vàng múm mím. Ô hay, trăng ở quê không toe toét anh Cu nhể. Từ ngày xưa vẫn thế. Đến lúc này bà mới ngửi thấy mùi nhựa chám đốt thay nến của những chiếc đèn ông sao vụng về từ sân có lũ trẻ nhà bên đưa lại .
 3/10/2017

TRUNG THU TUỔI HAI MƯƠI.




Lúc còn bé, trung thu là niềm ước ao mong chờ đến mất ăn mất ngủ. Nhớ cái nắng từ lúc màu trắng rừng rực chuyển dần sang nắng vàng mầu mật, từ lúc cá chết nắng đến khi đồng làng ngoi lên loe hoe hoa súng và lũ vịt le ( sâm cầm) bay à à về đầm nước làng tôi. Cây bưởi đã lốm đốm những quả sém nâu hứng nắng phía tây và chim ngói lác đác bay trên đồng ấy là lúc trung thu tới. Chúng tôi chân đất chạy vù vù quanh gốc đa đốt những cây nến xâu bằng hạt bưởi phơi khô thơm ngầy ngậy. Chúng tôi xúm xít ở sân đình để anh phụ trách gọi đến tên giơ tay nhận quả chuối và quả hồng. Không có đèn ông sao, chúng tôi đốt đuốc đi quanh đầm nước hô to khẩu hiệu Bác Hồ muôn năm. Quê tôi hẻo lánh, quà trung thu là bố mẹ chúng tôi góp từ vườn nhà, thế mà đứa nào cũng nghĩ đó là Bác Hồ gửi quà lên từ Hà Nội. Trung thu man mác và vời vợi xa như sương đầu mùa.
Chưa kịp nhớ là mình nhớn lúc nào và chưa biết là có bạn gái nào thích mình hay không thì đã vào lính. Hai mươi tuổi tôi vào lính với toàn những thằng cũng hai mươi tuổi như tôi. Nhập ngũ sau mười ngày là trung thu. Chúng tôi súng sính áo tô châu, mũ mềm có sao năm cánh đi khắp đường thôn nơi trú quân vang tiếng trống cà rình. Trăng lên trên lũy tre. Phải nói là cái năm ấy trăng sáng thế. Các cụ bảo sau lụt trăng bao giờ cũng sáng.
Đại đôi tập trung hết ở sân kho hát múa tổ chức tết cho trẻ con nơi đóng quân. Sân khấu cắm bằng những cây tre ngoài bãi cỏ treo những cánh gà bằng võng bộ đội. Múa , hát , độc tấu và ngâm thơ. Tôi nhìn xuống từ trên sân khấu thấy vài chục trẻ con đứa có quần, đứa không có quần rạng tè he ngồi chăm chú nghe bộ đội hát. Quanh sân các ông, các bà các cô thôn nữ phe phẩy cái quạt lá cọ mắt ánh lên niềm vui.
Có nhẽ cữ đến tết trung thu, niềm vui người nhớn còn lớn hơn con trẻ bởi họ hạnh phúc vì chứng kiến cháu con mình đang hạnh phúc. 
Tôi ngó sang thấy thằng bạn Ngô Thịnh đang thì thầm gi đó với cô Tĩnh A trưởng anh nuôi. Thấy thằng Tiêu năm thứ tư khoa Cơ khí đang bần thần ngắm khuôn mặt cô A trưởng anh nuôi buồn thiu thiu. Dưới trăng tôi kịp ngắm cô lính mặc áo sơ mi trắng ngực căng như ngực chim gâu lúng liếng cười bên thằng Thịnh.
Trăng sáng quá , trăng đẹp quá. Đêm trung thu nào cũng có sương. Càng khuya càng thấy sương rơi. Sương rơi nhè nhẹ và cái lạnh cũng rất nhẹ. Lần đầu tiên trong đời, tôi đứng giữa trời đêm trung thu mà ngắm trăng và hứng sương rơi như thế.
Khuya, cuộc vui tan. Xóm làng lặng lẽ và trăng đã lên trên đầu. Những chú lính thu dọn sân khấu dưới trăng sương. Tôi nhìn thằng bạn Ngô Thịnh trường tôi, tình tang khiêng cái thang tre nặng 6 kg với cô A trưởng anh nuôi đi trả cho dân. Thằng Tiêu buồn rười rượi, gấp mấy cái ni lông rải nền sân khấu ôm đi về sau lũy tre. Lũy tre đang thiu thiu ngủ.

Vài tháng sau, chúng tôi rời vùng quê trung du này đi chiến đấu. Mấy cái trung thu trong rừng không đứa nào còn nhớ và nhận ra trung thu nữa. Gần nửa số chúng tôi có mặt đêm trung thu ngoài sân kho hát múa vỗ tay ấy không về. Đó là trung thu tuổi hai mươi của tôi. Tôi nhớ đêm trăng ấy sương rơi rất nhẹ và trăng rất mềm. Tôi lại nghĩ chả biết mấy chục thằng còn trở về như tôi có nhớ tới trung thu hơn bốn mươi năm trước ở lính không? Vì ngày mai đã lại trung thu rồi
13/9/2016

BÀ CÚN ĐI SÈ GÒN




( viết tiếp cho Mưa tháng bảy và Bà Cún về quê)
Bà cún rời quê xuống Hà nội. Bà ở thủ đô một ngày nữa rồi bà bay đi Sè Gòn. Mấy nhà buôn đồ “tre ầm” cùng ngạch với bà giữ mấy bà cũng không ở. Ở lại bà nhớ cửa hàng nhà bà với những con Canh trùi trụi cô đơn. Ở lại bà ngửi thấy mùi mùa thu Hà Nội giống mùi bà nhớ bà thương từ nảo nào tới giờ. Người già sợ nhất là dư âm. Mà dư âm của bà thì toàn là anh Cu với mùi vườn mùi ruộng. Sao mà cái khíu giác người già nó tồn tại lâu hơn thính giác thị giác nhể? Rõ là con người ta già cục bộ.
Bà lên xe ra sân bay. Con đường nắng hanh hanh mùi rơm rạ. Bà bảo chú Grab hạ cửa kính. Gió lùa vào xe có cả mạt rơm. Bà bỏ kiếng mát bà dòm ra xa. Ngay ở nách Thủ đô mà bà vẫn nhìn thấy đàn bò hiền như bò quê. Bà chợt nhớ anh Cu vẫn đi chăn bò. Hôm kia hôm kìa bà về quê thấy anh Cu mặc quần đùi đuổi bò về tay mắm một nắm sỏi cuội trắng. Bà hỏi:
- Cu làm gì mà nhặt sỏi về thế hở anh? Cu bảo, nhặt về cho Cún mang đi Sè gòn mà chơi ô ăn quan. Lúc Cu đuổi bò vào chuồng ngoái lại còn nói:
- Cún ơi, có nhớ ngày xưa mình hay nói “ hết quan hoàn dân, thu quân kéo về “ không? 
Bà Cún giật mình. Giời ôi! 
Bà quên từ lâu rồi, bà quên mất mình từng là con gái nhà quê. Bà quên nhiều thứ lắm. Bà quên cả những cái mụn đỉa cắn trên bắp chân mình mà anh Cu đã từng nhá lá cỏ đắp lên cho bà. Cái bọng chân trắng nhễ trắng nhại vẫn còn vết mờ hồng hào như hột quả hồng mùa thu. Đó đó, đó đó! bà nhớ ra rồi. Và bất giác bà nhớ bài lúc vẫn chơi " que mốt que mai. "

Bà cún cất tiếng như hát bô lê rô:
- « Que mốt que mai
Cái Chai cái hến 
Con nhện giăng tơ
Quả mơ quả táo
Cán gáo lên bàn đôi. »
Bà lau mắt rồi hát tiếp :
- « đôi tôi đôi chị
đôi cành thị đôi cành na
đôi lên ba.
Ba ta ba mày
Ba lưỡi cày
Một sang tư »
Bà Cún nức nở. Anh tài xế Grab vội hỏi, bà ơi bà có cần dừng lại không ? Không không ! anh chạy nhanh cho tôi đến sân bay…

Chuyến bay lúc gần trưa nắng cũng như mật trên đồng nhà bà ngày xưa. Bà biết, bà sẽ chả bao giờ trở về làng cũ nữa. Nơi chốn đầy những là kỉ niệm mà từ ngày bà đi lấy chồng bà đã quên lịm nó rồi. Bà nhìn qua cửa máy bay nắng vàng mùa thu mà phương nam không có. Bà nhớ mùa chim ngói, nhớ trái trám rừng những cữ mưa rào. Bà thương ơi là thương những đứa cháu bà bây giờ không có tuổi thơ như bà và ông Cu ngày xưa. Bà nhớ cửa hàng "tre ầm" của bà và những đứa cháu vùi đầu vào "ai bát" nứt mắt ra đã làm người lớn. 
Tiếng cô tiếp viên làm bà giật mình :
- Bác uống gì ạ ? 
Bà thấy rõ tiếng anh Cu tối hôm nọ ở quê.
- Cún ơi mày uống nước Vối không ? 
Bà lắc đầu với cô tiếp viên lông mi cong bôi keo nhọ nồi.
Cô tiếp viên ái ngại nhìn bà. Cô ấy cứ nghĩ bà đang khóc.

16/8 âm lịch
4/10/2017

Bếp của Mẹ



Con về đun bếp ngày xưa
Chỗ ngồi vắng mẹ khói lưa thưa gầy
Mái treo bồ hóng tối ngày
Lửa rưng rưng đỏ mắt cay cay chiều.

 5/10/2017

Tuesday, October 3, 2017

Một con đường đi không trở lại-Thơ Nguyễn Trọng Luân, Ngâm: Bích Tuyển

BÀI THƠ VIẾT ĐÃ 40 NĂM VÀ TẤM ẢNH CHỤP MỚI 1 năm.


Tôi có người bạn cùng chăn trâu nhưng học sau tôi một lớp. Tôi vào đại học thì nó học lớp 10. Tốt nghiệp cấp 3 nó đi bộ đội. Hai năm sau tôi vào chiến trường gặp nó cùng đội hình sư đoàn, Nó ở tiểu đoàn 12,7 li còn tôi dưới bộ binh. Cứ chiến dịch thì gặp nhau. 
Mùa xuân năm 75 gặp nhau 3 lần.

Đêm 5/3 / 1975 hành quân đánh cắt đường 14 gặp nhau. Lệnh bí mật đến nỗi 2 thằng chỉ ôm nhau nói thầm. Nó bảo, con Vấn nhà bà Tí Hộị lấy chồng rồi mày ạ. 
Lần thứ 2. Một Tuần sau gặp nhau lúc hành quân gần đến đèo Hà Lan. Nó lại bảo, thằng Kha nhà bà Tào là thằng lấy con Vấn đấy. Mình nghĩ thầm chắc thằng này hồi còn ở nhà nó phải lòng con Vấn.

Lần thứ 3 vào trưa 14/3/75 Đánh Cư Pao xong chạy rút về Buôn Hồ. MÌnh mệt quá nằm rúc bụi cây rồi dậy vạch quần đái ra cỏ thấy có máu. Nó đi đến. Nó vứt cái bầu nòng 12,7 ra đất nằm uỵch cạnh mình. Nó lại kể chuyện làng. Nó bảo, thằng đéo nào mà chả đái ra máu. Tao vừa đái xong. Những máu là máu. Đ. mẹ nó ! hơn mười ngày nay không được ngủ ăn toàn muối rang giềng. Cả đại đội kiết lị ...lại chả đái ...có mà ỉa cũng ra máu.
Chia tay nhau. Từ ấy kéo tuốt đến Sài Gòn. Sáng 29/4 / 1975 tôi đánh Cầu Bông còn nó đánh Đồng Dù cùng với mũi e48. Chúng nó đưa 12 li 7 lên bắn cho mở cửa. Nó chết lúc 9 rưỡi sáng ( ấy là nghe bạn nó sau này ở cùng lên đội Văn Nghệ Sư Đoàn với mình kể lại)
Bố mẹ nó mất cả rồi, các em nó tứ tán , mộ nó vẫn ở An Nhơn Tây. 
Bài thơ tôi viết cho nó vào 1976 khi ấy tôi từ Hà nội quay vào đơn vị để lấy hồ sơ Đảng . Tôi ra thăm mộ nó ngoài rừng Cao su ở xã Tân An Hội. Nhìn mộ nó loe hoe cỏ và đầy những giun đùn. Tê tái.

Bài thơ Chép lại
NHỚ NHÂN NGÀY TRỞ LẠI SÀI GÒN
Trời đã vaò thu rồi Nhân ơi
Quê chúng mình sen sắp tàn đầm lại vắng
Những cơn nắng mùa hè khoác áo vàng ngày xưa 
Vội vàng vội vàng đi cùng dĩ vãng

Tôi đi lại những con đường 
Đất sỏi liếm mòn gót đời lam lũ
Bờ đê cỏ vẫn xanh rờn
Mùa thu về trông hoa râm hơn

Tôi trở lại mái trường
Nhà lá tường vôi bở lở
dấu vết đã qua yêu thương
in chân chúng mình tháng năm còn đó

Thắng năm cánh đồng mưa gió
Đời chúng mình nghèo yêu kiếp chăn trâu
Đời chúng mình nghèo yêu thương cho nhau
đời chúng mình nghèo ước mơ nho nhỏ

Trời nào xanh như trời quê ta
trời rộng hơn tầm tay với chúng ta
anh đi súng nặng vai đêm lẻ
Tôi đi buồn vương gieo theo xa

Để lại có ngày tôi gặp anh
kiếp lính lênh đênh tình sao buồn tênh
ôm nhau nhớ khoảng đời nắng gió
Súng nổ tàn canh trời cao nguyên mông mênh

KHoác nắng mùa hè trời Sài Gòn mây trôi nhanh
Ước mơ trở về súng nổ lúc Bình minh
Tôi òa khóc trên đường hoa phượng nở 
Gọi anh nức nở Đô thành

Tôi gói cho Nhân tròn mộ 
Tình yêu mơ ước cuộc đời 
nhớ nhau gọi mùa nắng đỏ 
Sài Gòn ơi Sài Gòn ơi

TRở về đi lại đường xưa 
Bước chân dẫm lên mây mơ
Còn đây lạnh lùng hoa trắng
tình xưa bàng hoàng trong thơ
26/9/2017