Monday, July 6, 2020

Thi Pháp tiểu thuyết hiện đại ( Bùi Việt Thắng)

Cám ơn NLLPB BÙI VIỆT THẮNG.
1
Đọc nguyentrongluan.blog, tôi thích câu chuyện anh kể lúc mới mười tuổi (nhưng đã là anh cả của 5 anh em), theo mẹ lần đầu đi chợ tỉnh Yên Bái. Hai mẹ con thức dậy từ quá nửa đêm, đi bộ hơn mười cây số, đến nơi sớm quá bị ông gác cổng chợ còn ngái ngủ phang ngay cho một câu tóa đóm “chợ chưa họp kẻ cắp đã đến!”. Thương con, khi bán hết hàng, người mẹ mua cho một bát ca-ri, giá 8 hào, hết những 4 cân nhãn bán bù tiền vào đó. Con trai, trước đó thì đi xúc cua, bà mẹ thì chăm nhãn, dành dụm đi chợ tỉnh mong đổi hàng lấy tiền (của đáng tội, riêng nhãn thì người ta nếm nhiều hơn mua, nên thu về chả được bao nhiêu, may mà cua người ta không nếm được). Mới mười tuổi mà can trường, hay lam hay làm ( cũng một cái vó to như của người lớn). Nhắc lại điều này để thấm thía một nguyên lí tối giản – nhân cách con người được định hình trong tuổi ấu thơ. Lớn lên trong gian khổ, thiếu thốn và chiến tranh, bom rơi đạn lạc, Nguyễn Trọng Luân, người cùng thế hệ chúng tôi đã qua trui rèn “lửa đỏ và nước lạnh”. Học hết năm thứ ba trường Đại học Cơ Điện Bắc Thái (khoa Cơ khí), Nguyễn Trọng Luân, như nhiều bạn bè cùng trang lứa “xếp bút nghiên theo việc binh đao”. Đó là năm máu lửa 1972. Vào mùa hè nóng rẫy. Năm mà hàng ngàn sinh viên đại học nhập ngũ. Cuộc chiến bước vào giai đoạn quyết liệt chưa từng thấy. Nhiều người trong số họ không trở về sau 1975, tiêu biểu như nhà thơ Vũ Đình Văn (sinh viên Đại học Sư phạm Hà Nội), như anh Nguyễn Văn Thạc (sinh viên Đại học Tổng hợp Hà Nội). Nguyễn Trọng Luân thuộc số người may mắn trở về sau chiến tranh. Anh coi đấy là hạnh phúc. Học tiếp ở ngôi trường nơi mình ra đi. Lại học tiếp một trường nữa, thuộc hệ thống trường Đảng. Nhưng ra trường lại rẽ sang lối khác. Những tưởng suốt đời gắn với chuyện kinh doanh lấy lời lãi làm chính trong tư duy. Từng làm Giám đốc công ty. Nghĩa là từng có địa vị, tiền tài dẫu cho anh là người liêm khiết thì cái may mắn, cái lợi lộc nó vẫn cứ đến một cách tự nhiên. Nhưng nếu theo cái sơ đồ ấy thì có lẽ cái tên Nguyễn Trọng Luân cũng sẽ chìm nghỉm đi trong ngàn vạn cái tên bình thường khác. Và bây giờ thì anh sinh hoạt trong Hội Người cao tuổi!? Hình như số phận đã định đoạt. Nguyễn Trọng Luân phải cầm bút viết văn thì mới định vị mình được giữa bao la cuộc đời này. Tuy nhiên đó chưa phải là điều quan trọng nhất. Tất nhiên, khi cầm bút viết văn, tôi nghĩ, tự bạch của Nguyễn Trọng Luân là đáng tin cậy: “Tôi viết không phải là văn cho tôi mà là lời đồng đội đã hi sinh bảo tôi viết thế”.
Tôi có cái cảm giác một lúc nào đó, từ rất lâu rồi, từ ngày mới cầm bút viết văn, Nguyễn Trọng Luân cứ bâng khuâng, chung chiêng giữa đôi bờ văn thơ. Trong một bài thơ gần đây đăng trên blog cá nhân, Nguyễn Trọng Luân vẫn cứ đau đáu với hoài niệm quá khứ: “Đừng vội nói chúng tôi ăn mày dĩ vãng/Dĩ vãng của chúng tôi là máu đất nước này/Tôi dạy con mình trong mỗi ngày khó nhọc/Bố con mình cũng chỉ kẻ ăn vay” (Bài thơ về “Tháng chiến binh”, viết ngày 7-12-2016). Trong số 11 tác phẩm trình làng văn (từ năm 2009 đến 2016) của Nguyễn Trọng Luân, tôi “đếm” được 4 tập thơ và 7 tập văn. Con số này nói lên một thực tế, dẫu sao thì Nguyễn Trọng Luân vẫn “kết” văn xuôi hơn thơ ca. Nói thế, tôi không có ý phân biệt sang hèn, cao thấp. Ơ đây là vấn đề sở trường và sở đoản. Riêng tôi nghĩ, văn xuôi mới là sở trường của Nguyễn Trọng Luân.
2.
Tiểu thuyết Rừng đói (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2016) vừa ra mắt độc giả, còn thơm mùi mực. Một cuốn tiểu thuyết đầy tính chất “lính trận”. Có cái vẻ ngoài mộc mạc đến thô ráp, ngổn ngang như là cố ý, giản dị như là nguyên tắc viết về chiến tranh. Dễ dàng có thể xếp loại Rừng đói vào kiểu “văn chương phi hư cấu”. Nhưng đừng tưởng dễ dàng cứ thế mà viết ra một cách tự nhiên, nhi nhiên. Có thể là không bịa đặt, phóng đại, không hư cấu theo nghĩa bình thường. Riêng tôi, vẫn nghĩ đã là sáng tác văn chương là cần có hư cấu. Trong một lần tao ngộ văn chương gần đây anh chia sẻ thật thà: “Tôi viết Rừng đói chỉ trong vòng một tháng là xong. Viết như lên đồng. Viết xong tôi kết cấu lại và tự đặt là tiểu thuyết”. Đó chính là con đường và cách thức hư cấu đấy thôi. Qua câu chuyện văn chương với các nhà văn mặc áo lính, không chỉ riêng tôi cho đến nay rút ra được một nhận xét có tính chất vừa lý thuyết vừa thực tiễn: Có ba kiểu nhà văn viết chiến tranh. Kiểu thứ nhất là những nhà văn có tài, họ quan sát chiến tranh rất sắc bén, nhanh nhạy, cảm hội chiến tranh bằng trí thông minh. Họ thực hiện công thức “Đi - Đọc - Viết”. Họ viết chiến tranh chủ yếu bằng suy nghiệm. Nhưng không vì thế mà độc giả không thích đọc tác phẩm của họ. Kiểu nhà văn thứ hai là “lính trận” chính cống, chính hiệu. Họ là người trải nghiệm chiến tranh bằng chính máu xương của mình và đồng đội. Tác phẩm của họ chinh phục độc giả bởi tính chất tươi nguyên, trung thành của chất đời. Họ ít hư cấu, bịa đặt. Thậm chí viết theo nguyên tắc “phi hư cấu”. Độc giả thấy nhà văn viết như là “nhúng tay vào sự thật”. Sự thật trong tác phẩm thường là “sự thật chiến hào”. Kiểu nhà văn thứ ba là lớp “sinh sau đẻ muộn” (thế hệ 7x là một ví dụ). Họ viết chiến tranh chủ yếu bằng trí tưởng tượng . Họ viết chiến tranh theo cách của mình nên đôi khi không tránh khỏi tùy tiện. Nên cùng lúc có nhiều cách viết chiến tranh là lẽ thường tình. Thậm chí có người còn đinh ninh “chưa biết mèo nào cắn mỉu nào”.

3.
Riêng tôi, khi tiếp nhận Rừng đói của Nguyễn Trọng Luân, là nghĩ tới phương châm viết của văn hào Nga thế kỷ XIX, L. Tolstoy, tác giả của kiệt tác Chiến tranh và hòa bình. Ông viết, đại ý, nhân vật mà ông yêu mến và quan tâm nhất khi viết là SỰ THẬT. Tôi nghĩ, Rừng đói của Nguyễn Trọng Luân được viết theo nguyên tắc phụng sự duy nhất chỉ sự thật. Đọc những trang văn của Nguyễn Trọng Luân trong Rừng đói tôi nhớ tới những câu thơ chát chúa, rớm máu, nhỏ lệ của nhà thơ Thôi Hữu trong bài thơ Lên Cấm Sơn viết trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp: “Cuộc đời gió bụi pha xương máu/Đói rét bao lần xé thịt da/ Khuôn mặt đã lên màu bệnh tật/Đâu còn tươi nữa những ngày hoa/Lòng tôi xao xuyến tình thương xót/Muốn viết bài thơ thấm lệ nhòa/Tặng những anh tôi từng rỏ máu/Đem thân xơ xác giữ sơn hà”. Cảm thán quá chăng? Tôi nghĩ là không! Tôi đã có cơ hội đọc được nhiều tác phẩm viết chiến tranh của nhiều thế hệ nhà văn Việt Nam. Tôi thích cách viết của Lê Khâm (sau này đi chiến trường ông lấy bút danh Phan Tứ) trong tiểu thuyết Trước giờ nổ súng. Cái hay của tác phẩm là rất ít tiếng súng ùng oàng. Cũng không có cảnh người chết trận vì chưa vào trận. Không có khói lửa. Là bởi “trước giờ nổ súng” thì cái tâm trạng của con người mới điển hình. Tôi lại cũng thích cách viết về những dư âm, hậu quả của chiến tranh như Cỏ lau của Nguyễn Minh Châu, hay những “nỗi buồn chiến tranh” như tên một tiểu thuyết cùng tên của Bảo Ninh. Nghĩa là tôi thích đọc cách viết ở đó chiến tranh được nhìn từ nhiều phía, có khi như thể là ở ngoài chiến tranh. Vì thế mà chuyện một tiểu đoàn sinh viên trong vòng 100 ngày chỉ có mỗi việc đi đào sắn, chế biến thô sơ rồi “cõng” về cho các đơn vị chủ công ở phía trước thì có gì đáng để viết? Sẽ có người phàn nàn tưởng viết về chiến tranh là thế nào, hóa ra là chuyện miếng ăn, cái đói. Nhưng đừng quên chuyện miếng ăn và cái đói không hề nhỏ nhặt. Viết về nó mà Nam Cao trở thành văn tài và có những kiệt tác để đời như Một bữa no đấy thôi. Nhưng máu thì vẫn đổ. Vẫn có không ít người mãi mãi tuổi hai mươi trong khi đi cõng sắn về tiếp viện cho đồng đội. Có lẽ sự vĩ đại lại chính là ở đây, từ những công việc có vẻ tầm thường nhất trong đời sống. Nguyễn Trọng Luân chia sẻ: “Khi còn ở chiến trường, tôi đã cho là chiến tranh là ở chỗ không có tiếng súng. Là mẹ tôi, là em tôi, và những người mẹ, người vợ. Tôi không thích những tác phẩm chiến tranh tỏ rõ là ác liệt, rõ là lâm li về hi sinh của nhiều người ngoài trận tiền. Là người chiến đấu nhiều trận, nên khi đọc đùng đoàng súng nổ và chết chóc chưa bao giờ tôi thấy mình xúc động mà cứ thấy cái sống lưng mình sường sượng. Sự thể ấy có thể: 1- Người viết không trung thực. 2- Văn chương đích thực không ở chỗ đó. Nó ở chỗ làm con người YÊU, NO ẤM, VƯƠN LÊN, SUNG SƯỚNG HƠN”. Tôi nghĩ, viết chiến tranh với Nguyễn Trọng Luân như là cách nhìn vào mặt sau tấm huy chương.
Hiểu được quan điểm sống và viết của tác giả, độc giả sẽ thẩm thấu vào Rừng đói sâu sắc hơn, tôi nghĩ như thế khi đọc xong tiểu thuyết rất đáng đọc của Nguyễn Trọng Luân. Tác phẩm ngồn ngộn chi tiết sống. Nhưng không làm ta thấy rối ren. Vì cái “sợi chỉ đỏ” của nó rất nổi bật – chủ nghĩa lạc quan chiến đấu, niềm vui sống, tình cảm tha thiết với quê hương đất nước. Trong một cuốn sách xuất hiện gần đây, có người đã viết như là đay nghiến về một thời “nếu cây cột điện biết đi thì nó cũng di tản”. Nếu người đó đọc Rừng đói của Nguyễn Trọng Luân, tôi nghĩ, có thể phải hối hận. Này đây, những người lính trẻ mười tám, đôi mươi đi đào sắn, cõng sắn về cho đồng đội có cái ăn để chiến đấu, khi đứng chân bên đất bạn đã: “Chả biết người đi ngoại quốc có cái cảm giác giống của chúng tôi không? Chỉ sâu ở trong đất người có vài ba chục cây số thôi mà một chiều ra bờ sông biên giới nhìn sang bên Gia Lai đã thấy nao lòng. Thấy như sắp về làng mình đến nơi (…). Nhìn khói đốt nương bên kia biên giới mà cứ ngỡ như mẹ đốt rạ ngoài đồng sau vụ gặt”. Đọc Rừng đói, lạ thay thấy tiếng cười của lính trận vang lên, lúc thì “ràn rạt”, lúc thì “tóe lên”, lúc thì “sèn sẹt”,…Thấy thật đã đời.
Gấp lại trang cuối tiểu thuyết Rừng đói, mọi chuyện gian nan, đói khổ, chết chóc dường như qua đi. Với tôi chỉ còn lại nụ cười chiến thắng của những người lính bình thường mà vĩ đại. Đó là thành công của nhà văn mặc áo lính Nguyễn Trọng Luân. Tôi nghĩ sẽ có nhiều người nghĩ như tôi./.

Hà Nội, tháng 12-2016

Ăn sáng


( gửi Dinh Ngoc.)
Chả làm gì nữa chỉ làm dân
Có cái quán quen cũng ở gần
Mỗi sáng tôi nhìn qua khe cổng
Nhớ bao người tôi yêu tôi thân.

Tôi nhớ bạn tôi ở rất xa
Giờ này chắc cũng rất ngẩn ngơ
Chả biết có nhớ tôi không nữa
Hoa giấy đỏ nồng mềm như thơ

Tôi nhớ bạn tôi ở rất gần
Bao nhiêu cao đạo chẳng bằng dân
Bao nhiêu sao gạch cho vào tủ
Chỉ cần bữa sáng có bạn thân

Ăn sáng là ăn không đẳng cấp
Chẳng có cao nhân đến hết đời.
Mỗi sáng gọi nhau đi làm tí
Chỉ một đĩa lòng một cút thôi.

Chẳng có quan nào ưa ăn sáng
Thằng nào cũng thích ăn tối thôi.
Ăn tối quá nhiều quên ăn sáng .
Chúng nó đâu bằng dân chúng tôi.
27/6/2020

Tàu Bà Quì.


Đường tàu hỏa Hà nội - Laokay qua cửa nhà tôi hoàn thành được 46 năm thì tôi mới ra đời. Từ bé, tiếng tàu đêm chính là tiếng ru những đứa trẻ nhà gần đường sắt như tôi vào giấc ngủ. Còn tiếng tàu chạy ban ngày là niềm mong mỏi kích thích lũ chúng tôi muốn rời quê đi xa tìm những điều mới lạ. Ngày bé, mỗi sáng đi học tôi đều phải bước qua đường tàu hai lần. Buổi chiều đi chăn trâu tôi lại đi qua hai lần nữa . Trong một ngày dễ thường tôi nhìn thấy tàu chạy qua làng tới dăm lần. Chả hiểu sao tôi rất thích ngửi mùi than đốt lò mỗi khi tàu hỏa chạy qua. Nó khen khét, tanh tanh gờn gợn như mùi bùn ao tù, có lúc cái mùi bay hun hút theo những dải khói của đầu tàu vương lại những vòm cây dọc đường nó chạy qua. Tôi rất thích tàu chạy qua chỗ đường cong. Tàu đang lao nhanh bỗng phanh chậm lại, nó nghiêng về một phía rít lên ken két. Bác tài xế nghiêng đầu nhìn lũ trẻ chúng tôi đứng ven đường, mỉm cười thật hiền và hãnh diện.
Ở quê tôi có những những khúc cong nối liền nhau làm cho đoàn tàu uốn vặn mình. Khi đầu tàu đến khúc cong kia thì đuôi tàu vẫn ở bên khúc cong này , con tàu uốn lượn giữa những quả đồi đầy quýt và bưởi mít thanh bình êm ả.
Tôi thuộc từng giờ từng chuyến tàu lên tàu xuống. Tôi thuộc những đầu máy mang tên 141 có những dãy 3 chữ số đằng sau 141. Mỗi con tàu có tiếng còi mà chúng tôi nhận ra như giọng nói riêng cho từng người. Tàu nào là tàu chở khách tàu nào là tàu chở hàng. Chúng tôi còn thuộc chuyến tàu nào có anh tài xế hay cười, tàu bác béo, tàu nào hay hú còi chào lũ chúng tôi đang trên đường đến lớp. Mỗi khi hú còi khói tàu vút thẳng lên giời. Thích lắm.
Từ nhà tôi đến nhà cái Thành học cùng lớp khoảng ba trăm mét. Hồi mới vào Hợp tác xã 1959 nhà nó là tiểu thủ công . Bố nó làm máy khâu còn mẹ nó bán đại lí rượu Văn Điển. Ở làng gọi là nhà ông Quì may. Tôi với cái Thành thân nhau lắm. Tôi toàn gọi nó là mày tao. Nhưng cái Thành thì đã biết gọi cậu và tớ từ ngày ấy. Nhà Thành đẳng cấp hơn vì là người dưới xuôi lên tản cư. Tuần nào nhà nó cũng có người dưới Đình Bảng ngược tàu mang lên những cá khô, muối mắm vải vóc thuốc men. Mấy làng bên cạnh cũng nhiều người Đình Bảng lên ở từ hồi 1946 . Họ lập nên những dãy phố toàn thợ may thợ nhuộm lò rèn ba toa và hàng xén. Không có họ chắc quê tôi chả bao giờ biết đến cái đàn ghi ta, quả bóng và những cuốn tiểu thuyết bìa vàng.
Trở lại nói chuyện về tàu hỏa. Ở gần nhà cái Thành là khúc cong chữ S . ở đấy có cái cột tín hiệu đèn xanh đèn đỏ. Tàu từ Lao kay về đến đó thì đầu tàu nghiêng sang bên phải còn đuôi tàu vẫn nghiêng sang bên trái. CHúng tôi đứng trên đỉnh đồi trường cấp 1 nhìn con tàu uốn như con rắn thích lắm. Một hôm chơi ở sân nhà cái Thành có một đàn gà con đang ăn ven đường sắt. Bỗng con mẹ ngẩng đầu lên mắt long lên sòng sọc , miệng tục tục , oác oác những tiếng ghê rợn. Những con gà con ăn gần đường tàu lao về rúc vào cánh gà mẹ đang dang lên. Chỉ một lát sau có tàu hỏa chạy qua. Tàu chạy qua rồi gà mẹ mới rang rộng cánh để đàn con chui ra lại túa đi kiểm ăn. Cái Thành bảo, gà mẹ nghe tiếng tàu hỏa sắp chạy qua là gọi gà con chạy về hệt như báo động có diều hâu đến đấy chúng mày hiểu chưa? Cả lũ nể quá. Nhưng chuyện nể hơn nữa lại là chuyện con gà mái nhà nó . Khi đàn con đi kiếm ăn rồi con gà mẹ đi thập thững ra bãi cỏ đầu nhà lấy mỏ moi móc cỏ rác kiếm sâu bọ . Nó luôn ngẩng cao đầu nghiêng ngó nghe ngóng . Khuôn mặt gà đầy vẻ lo âu. Cái lo âu của con gà mẹ chỉ biểu hiện ở đôi mắt và màu của cái mào của nó. Có lẽ cả một ngày gà mẹ không một phút thảnh thơi, gà mẹ không bao giờ biết no thì phải. Cái Thành kể, vài năm trước con gà mái ấy bị tàu hỏa kẹp đứt hai ngón chân bên trái. Từ ấy nó đi thập thiềng. Cũng kể từ đó nó rất tinh, nó phát hiện tiếng tàu từ rất xa. Mỗi khi tàu chạy qua là mắt nó long lên, cánh nó xòa ra , nó ngồi sụp xuống thế thủ. Chuyện về con gà mái cụt hai ngón nhà cái Thành chúng tôi bảo là đó là con gà thành tinh vì nó sống đến cả chục năm mới chết. Mà nó cũng lại bị tàu kẹp chết vì đến những năm sau này tai nó điếc hẳn và mắt rất là quáng.

Vào năm 1963 nhà cái Thành cũng phải vào HTX nông nghiệp chứ người ta không để cho ở ngoài công thương nghiệp nữa. Ngày ấy chỉ nghe nhà này là bần nông nhà kia là tiểu thủ công nhà nọ là tiểu thương là thấy ghê ghê. Những đứa bạn con nhà tiểu thương luôn bị thày cô giáo xét nét, luôn bị trên xã họ để ý. Ấy thế mà khi vào HTX nhà cái Thành làm chả kém nhà ai. Bà Quì làm ruộng làm nương thật khỏe. Cái Thành thì khỏi nói , nó nhanh như sóc và bạo dạn. Mỗi buổi đi làm về mẹ con bà Quì ai cũng một vác củi rõ là to. Ở quê tôi đi làm vào nương dộc cách xa chừng 1, 2 cây số thường là trưa nghỉ luôn trong rừng. Ăn cơm nắm rồi đi kiếm củi hay kiếm sọt bứa nhăt giỏ trám hay chặt vác nứa để chiều mang về. Hôm ấy Bà Quì mẹ cái Thành chặt một vác nứa rồi về luôn không làm buổi chiều. Từ rừng về nắng nhễ nhại , bà Quì nghỉ vài thôi đường mới về đến đường tàu chỉ cách nhà vài chục mét. Lúc ấy chừng hơn 2 giờ chiều . Bà Quì vác vác nứa trèo qua đường sắt thì tàu hỏa cũng gần đến nơi. Tàu hú còi dài , bà Quì sang hết đường rồi chỉ còn đuôi vác nứa vẫn phía sau. Tàu hỏa quệt vác nứa khiến bà ngã lăn ra đường bất tỉnh. Tàu hỏa dừng lại. Đó là con tàu chở hàng, nó chở quăng A pa tít về xuôi. Bà Quì tỉnh dậy lại vác nứa về nhà. Chuyện nhỏ như con thỏ. Nhưng từ ấy tai bà trở thành nghễnh ngãng. Thật tội. Chuyến tàu lúc 2 rưỡi chiều qua làng tôi từ ấy dân trong làng gọi là “tàu Bà Quì”. Thuở ấy tàu hỏa chạy đúng giờ lắm. Có nhẽ hàng chục năm kể từ ngày Hòa Bình lập lại 1954 đến năm 1965 tàu hỏa qua quê tôi không hề bị chậm trễ nhỡ chuyến bao giờ. Chỉ từ hồi chiến tranh ở làng tôi mới biết cau NHỠ TÀU . Phạm trù “nhỡ tàu” đúng cho nhiều hiện tượng xã hội mà chúng tôi phải trải qua phải gánh nhịn. Ấy thế mà những chuyến tàu lặng lẽ cô đơn ngày xưa cứ ăn hằn trong trí nhớ. Tôi về quê đến chỗ cây đèn tín hiệu xanh đỏ chỗ nhà cái Thành ngày xưa nhìn bãi cỏ chúng tôi chơi đùa ngày xưa với cái Thành và một hàng máy may nay mọc lên vài căn nhà nửa lạ nửa quen mà bỗng nhớ tiếng còi tàu ngày xưa quá. Nhớ những bậc cha mẹ chúng tôi nay thành thiên cổ, nhớ bác Quì máy khâu nhớ lũ trẻ chơi đùa chán chê rồi bá Quì lại cho củ khoai quả chuối. Làng tôi đó vẫn hiền lành như con ong cái kiến và tiếng còi tàu thì vẫn còn đây, chỉ những chuyến tàu thất thường qua làng rất chi là hờ hững
NTL

Tháng bảy về nắng dại cả buồng cau.

Em bảo chả biết có phải ngày sinh em không?
Mẹ chỉ nhớ hôm ấy sau mùa gặt chiêm trời nắng
Nhưng mẹ nhớ là nhuận hai tháng 5 con ạ
Đói kém ngay cả ngày mùa.
Em xinh em ròn như nắng
Nắm tay nhau ở cuối mùa mưa
Lấm láp mơ hồ vết chim dẫm trên bùn mạ
Có tiếng sấm đêm mưa rơi vào chung cư .
Tháng bảy cha chặt tre chống bão
Trám rụng vườn xưa
Mùa sinh em nhiều đom đóm
Mẹ đi rồi đom đóm buồn dọc bờ ao
Nhớ em nắc nỏm hôm nào
Ngày con mẹ vào đại học
Con tàu vừa kéo còi vừa khóc
Mỗi mùa hè nắng óng cả lưng em
Thương nhớ vườn xưa tóc mướt má đêm
Em đi mãi để lạc khô ngoài bãi
Mẹ gọi thằng cu cái cún
Tháng bảy về nắng dại cả buồng cau
NTL 29 6 2020

Về Hải Lăng Quảng Trị với thày Hiệu trưởng ĐỖ HỮU PHÚ


Khoảng năm 2010 – 2013 những người lính sinh viên chúng tôi hay viết trên một trang mạng Một thời MÁU VÀ HOA. Những người viết hầu hết là sinh viên nhập ngũ từ 1971 đến 1973 . Phải nói ở trang mạng ấy có nhiều cây viết nổi tiếng của lính. Rất nhiều anh đã có tác phẩm Văn học có tiếng. Anh Như Thìn ĐHTH viết NÓ VÀ TÔI , anh NGuyễn Thế Tường ĐH Tổng Hợp viết HỒI ỨC BINH NHÌ, anh Nguyễn Khắc Nguyệt viết ĐƯỜNG ĐẾN THÀNH PHỐ, Anh Trung Sỹ viết LÍNH TÂY NAM , anh Vũ Công Chiến BK viết HỒI ỨC LÍNH. Tôi Nguyễn Trọng Luân ĐH CƠ ĐIỆN viết tiểu thuyết RỪNG ĐÓI….. Bạn đọc khắp nơi trong và ngoài nước rất quan tâm đến những chuyện kể của lính của chúng tôi. Cũng như mọi người khác tôi hay viết về trường mình, về thày cô giáo và bè bạn ở trường ĐẠI HỌC CƠ ĐIỆN BẮC THÁI. Các bạn trường khác rất thích chuyện kể của lính Cơ Điện và ai cũng bảo, Cơ Điện là một trường hợp đặc biệt.
Vào năm 2014 , một hôm tôi nhận được một thư bạn đọc.
Bạn ấy viết “ …Anh Nguyễn Trọng Luân ơi, cho em làm quen với anh. Quê em ở xã Hải Tân Hải Lăng Quảng Trị. Có hai điều mà em gắn bó với các anh, một là quê em gần chỗ cầu Bến Đá mà các anh đã viết về trận đấu xe tăng của quân ta và quân VNCH năm 1972. Em cũng ở rất gần bờ sông Mỹ Chánh nơi bạn thân của anh học Đại Học Ngoại Ngữ hi sinh tháng 5/ 1972. Nhưng riêng với anh Luân em thấy gần gũi lắm vì anh Luân đã từng chiến đấu ở Buôn Hồ, Dak Lak và đã từng ở ngay trên mảnh đất huyện Cư M’gar mà bây giờ em đang là Hiệu trưởng một trường PTTH. Hơn thế nữa, làng em là làng Câu Nhi xã Hải Tân Hải Lăng cùng làng với thày Đỗ Hữu Phú mà anh hay nhắc đến đấy ạ. Anh ơi trong làng em, khi em còn nhỏ đã nghe những câu chuyện về ông Đỗ Hữu Phú , nhiều giai thoại về ông và là niềm tự hào của làng em. Ông học cao, ông đi hoạt động cách mạng sớm. Những năm chiến tranh ác liệt ở Quảng Trị quê em, em thầm mong một ngày bác Đỗ Hữu Phú sẽ về. Thật là tự hào sau ngày Giải phóng cả làng biết bác Đỗ Hữu Phú là Hiệu trưởng một trường Đại Học mà chúng em nghe thấy cũng mơ ước. Gia tộc họ Đỗ làng em hiền lành và đức độ ai cũng quí anh ạ. Thống nhất đất nước em mới 10 tuổi . Năm 1976 em được nhìn thấy bác Đỗ Hữu Phú. Bác về quê trông thật đẹp và hiền. Quê em có con sông Ô Lâu chảy qua, em chắc trong mấy chục năm xa quê bác Đỗ Hữu Phú nhớ con sông này lắm. Ngày bác Phú về quê học trò chúng em chạy ra xem thấy bác đứng rất lâu bên bờ sông Ô Lâu anh ạ.
Qua những câu chuyện của anh về trường Đại Học Cơ Điện, thấy các anh yêu quí thày Đỗ Hữu Phú khiến những người quê em thấy gần gũi các anh hơn. Từ ngày đọc anh, mỗi lần về thăm quê em ra thăm mộ tổ tiên nhà em là em lại sang thắp nén nhang cho bác Phú và bác gái. Hai ngôi mộ hiền lành như những người dân vất vả quê em Hải Lăng anh hùng. Qua các tác phẩm của an hem hiểu vì sao bác Đỗ Hữu Phú được thày trò CƠ Điện đúc tượng thờ ở trường. Em càng hiểu lời dân gian dạy lại đời sau thương dân dân lập bàn thờ.
Nêu có dịp anh vào Hải Lăng anh gọi điện cho em anh nhé. Em thu xếp được em sẽ phóng về quê để cùng các anh ra thắp nhang cho bác Phú.
Địa chỉ của em : Lê Chí Khai- Trường THPT Trần Quang Khải – huyện Cư M’gar, tỉnh Đắc Lak
Em gửi anh vài tấm ảnh về vùng quê của em cũng là quê bác Đỗ Hữu Phú .
Em chào anh.”
Đọc xong lá thư mà tôi cứ bâng khuâng. Tình người nó lớn lao đến mức vượt qua ước lệ thông thường. Thầy Đỗ Hữu Phú của chúng tôi đã đưa chúng tôi về với quê hương thày cả khi thày đã đi xa. Những người nông dân ở vùng quê Hải Tân Hải Lăng cát bỏng xa xôi ấy chỉ cần nghe thấy chúng tôi là sinh viên Đại Học Cơ Điện là họ yêu họ quí. NHững học sinh khóa 9 chúng tôi đã lên lịch vào ngày 13/8 năm nay 2020 chúng tôi sẽ về thôn Cầu Nhi xã Hải Tân để thắp hương cho thày cô
Chúng tôi sẽ đến mộ thày mà thưa rằng, chúng em nay cũng đã già, càng ngày chúng em càng thấm thía biết ơn công lao của các thày giáo cô giáo, các bác các chú phục vụ ở trường Đại Học CƠ ĐIỆN. Thưa thày Đỗ Hữu PHú. Chúng em ghi nhớ ơn thày và mái trường ĐH Cơ Điện yêu quí.
30/6/2020 NTL.

MƯA NỖI BUỒN


Đời bao nhiêu tuổi là bấy nhiêu cái mưa ngâu. Đời mình đã hơn sáu chục cái. Cái nào cũng não nề và buồn. Ấy vậy nhưng cũng có vài cái vừa vui vừa buồn. Vài cái ấy chính là thời đánh nhau trong Tây Nguyên. Tháng Bẩy âm lịch là mùa mưa ở Tây Nguyên, vì thế ngâu chẳng có gì lạ. Mưa ngâu là rỉ rả ngòai Bắc chứ ở đây mưa dầm dề, sùng sục suốt đêm ngày và nước ngầu lũ sủi bọt khắp mọi con suối rừng. Ngâu là cái quái gì ở đây, chả cần biết. Cầu Ô Thước cũng chẳng thể dựng nổi với mưa này. Vì thế với người lính, không có khái niệm mưa ngâu, chỉ biết mưa thì ít tác chiến hơn và đấy là thời gian chúi mũi trong hầm, vật vã ở bùn đất với sốt rét. Nhưng vật vã, đói ốm đến mấy cũng không bằng nỗi thê lương mùa tác chiến. Người ta bảo mùa chiến dịch, hoa chiến công nở rộ đẹp lắm trên con đường ra trận. Tôi thì thấy chả đúng. Hoặc nếu có đúng thì đúng cho mấy anh nhà văn thôi. Chứ mùa đánh nhau thì khốn khổ tận cùng và chả ai thích cả.
Hồi ấy tiểu đòan 7 chốt dẫy làng Dịt, còn chúng tôi ở bắc đường 19. Trung đòan bộ ở kiềng Nhà Lá. Chúng tôi học chính trị ở kiềng. Có cái hầm lớn nhất là hầm nhà bếp. Đại đội kéo nhau ngồi quanh bếp Hòang Cầm mà học. Ngọn khói từ nồi cơm ủ cái bao tải ướt bay là là mon men lên khỏi mặt đất là tan biến. Cán bộ đại đội và lính tráng mắt cứ nhìn chằm chằm vào mấy nồi mít non xào mỡ thơm rừng rực. Phát biểu chả thấy vào tai là mấy. Càng mưa càng đói. Càng đói càng sốt rét. Đói và sốt cứ song hành với nhau hành hạ lính Tây Nguyên. Tháng 8 năm ấy học Nghị quyết 21/TƯ. Chắc chả mấy bạn tôi nhớ nghị quyết ấy là gì. Tôi thì nhớ. Lí do tôi nhớ vì hồi ấy tôi thèm ăn quá, vừa sốt dậy, cái gì cũng muốn ăn cho chặt dạ, nhìn cái gì trên nương rẫy cũng nghĩ, cái này ăn được không? Thế là cái nghị quyết lịch sử này gắn liền với sự đói của tôi. Hôm nào trung đội nào hay đại đội nào đi đánh nhau thì được ăn sáu lạng một ngày, người lính ở nhà chỉ ăn một lạng. Cứ mỗi lần đong sáu lạng là anh nuôi rơm rớm nước mắt, thương những thằng xuất kích chả biết có sống mà ăn hết sáu lạng này hay không?
Ngòai trời sụt sùi mưa, những thằng ốm nằm trong hầm nhìn những thằng đi đánh nhau cũng khóc thầm.
Đêm tháng 8, mưa lê thê, tôi chui ra khỏi hầm, bò bết bát qua mũi súng thằng gác ra nương đồng bào bẻ trộm mấy bắp ngô non ăn cả râu ngô, cả lõi bắp thấy ngọt thon thót tận đỉnh đầu rồi bò về hầm. Thằng Đấu Thái Bình nằm cạnh, tôi tưởng nó ngủ. Thế mà nó trở lưng, hỏi: - Mày ăn ngô đồng bào hả? –Sao Mày biết? Nó bảo, tao cũng định đi nhưng mày bỏ đi rồi, tao nằm im sợ B trưởng xuống gọi không có thằng nào trong hầm. Ngòai rừng mưa dậm dựt, có tiếng đại bác Thanh An đùng đùng rồi tan vào mưa. Nghĩ ân hận với thằng Đấu, tưởng nó không biết. Giá mà mang về cho nó một bắp ngô non nhỉ. Ôm nhau, ngửi mùi chua chua mồ hôi của nhau, lìm lịm vào đêm…
Có một loài hoa ở Tây Nguyên rất nhiều trên những sườn đồi hồi ấy, lá to như cánh bướm vẽ tròn. Tôi vẫn nhìn thấy loài hoa ấy trên đường Hà Nội, họ trồng lác đác ở những khu đô thị mới mọc lên. Mưa, lá và hoa dính cụp vào nhau gục xuống bất lực. cỏ dưới mưa cũng gục đầu ràm rạp. Cả đồi cỏ nằm nghiêng về một phía. Cao nguyên chỉ có một luồng gió thổi vào mùa mưa nên cây cỏ cứ dạt nghiêng theo chiều tuyến tính. Chiều nghiêng ấy từ đông sang tây. Mấy thằng dựa vách hầm rỉ nước bảo nhau, mưa rào ngoài mình bay từ tây sang đông cơ mà ? Sao thế? Thằng nào trả lời được cho cái bánh sắn chiều nay. Chả thằng nào trả lời. Sợ cái bánh làm đói bạn mình, rồi lại sợ mình lộ ra sự nông cạn của kiến thức. Ngày ấy, lúc đánh nhau với giặc ngoài trận địa thì chả ai nghĩ ai có nhiều chữ hơn ai. Ấy thế, hễ dừng trận một cái là con người hiện nguyên bản ngã. Cũng kiêu căng muốn hơn người, muốn vượt lên trên người khác. Duy chỉ có điều là ai cũng không vượt nổi chính mình là sợ đói và chết. Con người là thứ động vật kiêu hãnh nhất, ngay cả ở trong ranh giới mong manh nhất của sự chết, vẫn sỉ diện đến đau đớn.
Bỗng một thằng hỏi, sao lại có Cầu Ô Thước? Mà tại sao cầu tòan là quạ? Tình yêu đẹp thế thì cho mẹ nó một đàn chim bồ câu hay cò trắng bắc cầu cho trai gái gặp nhau có hay hơn đàn quạ không? Tôi quay sang nhìn nó. Thấy nể quá. Có đến nửa trung đội tôi không hiểu cái chuyện cầu Ô Thước. Tôi cũng chỉ lặng im. Trong đầu tôi bỗng nhớ bộ tranh treo ở nhà mình có tích chuyện Ngưu Lang Chức Nữ. Đang buồn, nói thêm về cầu Ô Thước thêm buồn.
Ngày bé, tôi hỏi bố tôi khi nhìn vào bức tranh treo trên vách nhà cũng câu hỏi ấy. Bố bảo, bé đừng có hỏi lẩn thẩn nó vận vào thân. Tôi chợt im. Đàn quạ kề cánh vào nhau nối thành cái cầu cong cứ chập chờn trong giấc ngủ. Tôi lại nhớ lời bố nói khi xưa. Thôi, nói đếch gì chuyện ấy. Mấy thằng trong hầm thở dài. Thằng Đấu bảo, mày kể chuyện gì vui hơn đi. Mẹ kiếp, mưa nát cả đời lính.
Mưa nát cây nát cỏ, nát cả con đường bám địch, chứ nát cả đời lính thì nghe mông mênh quá. Quay sang nhìn thằng Đấu Thái Bình lấy làm lạ. Nó có học hành cao siêu gì đâu mà nói trừu tượng thế nhỉ? Thằng Đấu đã từng kể với tôi, nó tòan đi câu trộm cá ở ao hợp tác xã. Thậm chí hôm nhập ngũ, nó vẫn câu trộm được hơn cân cá rô phi về liên hoan để lên đường. Nó bảo ở Thái Bình, mưa tháng 7 nhiều cá rô rạch lắm. Cánh đồng lúa càng rộng, càng mưa nhiều, thì càng nhiều bờ cho rô rạch ngược. Trong hầm nó sụt sùi, ruộng 5% nhà tao trồng rau muống lại chìm hết rồi, rau ngoi trắng ơn ởn, nhạt tóet, bám đầy bèo hoa dâu… Nó khóc. Tôi ngồi nghe thằng bạn đánh nhau rất dũng cảm nhìn trời mưa khóc vì thương ruộng rau nhà mình bị chìm vì mưa tháng bẩy, trong đầu cứ ung ung nỗi buồn cầu Ô Thước.
… Trở về miền Bắc, mưa vào tháng 7 âm lịch lại mang tên mưa ngâu. Tháng 7 xá tội vong nhân -người đời bảo thế. Tháng 7 là tháng trâu trắng, sụt sùi những là nước mắt, những là nỗi buồn, những là xui xẻo. Bao nhiêu năm cặm cụi đi làm cái anh buôn sắt buôn thép, cứ tháng 7 là bộ phận kế tóan buồn thiu mỗi khi đưa báo cáo tài chính cho tôi kí rồi thở dài. Doanh số kém lãi lời không. Tháng 7 mưa ngâu mà anh, chả ai động thổ, chả ai triển khai dự án vào tháng 7. Ngay cả khai mạc hội nghị này nọ, thậm chí mừng công, cái thứ chả chết ai, cũng kiêng tháng trâu trắng. Ngành ngành chơi, dưới các đơn vị thành viên chơi vì không có khách hàng. Tháng 7, cơ quan tá lả, du hí cà phê và ngồi bình luận mẫu mốt cho mùa thu công sở. Hà Nội lụt chỗ này úng chỗ kia, tháng bẩy bộc lộ những thấm dột trần nhà, tắc cống, tắc bể phốt… Cứ như không có tháng 7 mưa ngâu thì người Hà Nội thấy cái gì cũng đẹp Hà nội thiên dường đến nơi.
Tôi nghe nỉ non đâu đó bọn trẻ hát bài Mưa ngâu. Mưa ngâu là cái cớ để họ tỏ tình thương nhớ cho nhau, vượt qua buồn lo mà đến với nhau. Tôi ngồi nhìn ra đường thấy đời vẫn bộn bề hối hả đấy chứ. Nhớ những thằng lính thuở xưa ở sư đòan 320A thân yêu, nay phiêu bạt phương trời nào? Nhớ thằng Đấu về Thái Bình có còn khỏe mà câu cá kiếm con rô phi, ngồi nhâm nhi lúc chiều ta đau lưng mỏi gối không? Nhớ những ngôi mộ lính mùa mưa ướt bê bết lá khộp, có con thằn lằn nằm trên mộ rình bắt mối rừng. Lạ quá, chiến tranh qua lâu rồi, nhiều cánh đồng xanh đàn cò trắng lại bay về, lại có những đàn cò lội theo người đi bừa trên đồng thanh bình như nửa thế kỉ trườc. Chỉ có đàn quạ đen, hay những con diều hâu vẫn chưa trở lại. Giống chim mà hồi bé tôi phải canh chừng kẻo nó bắt gà con. Nó đi biệt tăm từ dạo bom Mỹ tan hoang quê tôi. Không có đàn quạ, cầu Ô Thước bao giờ mới bắc? Mưa ngâu vẫn cứ là mưa nỗi buồn.
HN 2014

SAU ỐNG KÍNH MÁY QUAY.

( Với kíp làm phim về ĐH CƠ ĐIỆN )
Người quay phim chỉnh ống kính rất lâu.
Hiện ra gương mặt cha mình ngày trước.
Ngày cha đi đại học
Bà nội chưa có một bữa no.

Nơi con tàu tu tu
Khói trắng lò cao lẫn vào chiều khói bom tím bầm khu gang thép.
Có một trường đại học rải bản vẽ về phía chiến trường.
Sau ống kính máy quay hiện lên
Nụ cười hiền của thày Hiệu trưởng tóc bạc
là cánh rừng cỏ úa rất nhiều tiếng hát
Bản vẽ giăng giăng mắt học trò

Người quay phim run run
Ống kính lùi về ngày anh chưa đẻ
Ống kính thấy những ngôi mộ của những người thày giáo chết vì bom Mỹ
Và những mộ chí liệt sĩ sinh viên
Những cánh rừng vắt qua tình yêu
Những dòng sông chảy vào mùa thi vàng nắng
Khuôn hình thơm như tóc nữ sinh
Hiện về giảng đường trong tầm bom nổ
Hiện về gió bấc run môi ngụm chè Thái
Hiện về niềm yêu của một mái trường
Ống kính nhòe đi.

Sau ống kính máy quay
Một trời yêu có làn khói trắng
âm âm mẻ thép ra lò
Nửa thế kỉ như chỉ mới vừa qua

Hồ tây 3/7/20 NTL