Tuesday, April 21, 2015

TRƯỚC CHUYẾN ĐI THÁNG TƯ




Tôi không nói đi về chiến trường xưa nữa
Tôi đi về miền tuổi trẻ của đời tôi
Nơi ấy bạn bè tôi nằm lại
Cha ông tôi khổ đau gìn giữ đã bao đời

Bạn tôi bảo chiến trường xưa đấy chứ
Ngày chúng mình đánh giặc đến xâm lăng
Ôi đất nước hiền như sông bãi
Tổ tiên mình mở cõi cả ngàn năm

Nơi có giong cải lương buồn mở đất
Máu Lạc Hồng tưới cõi bắc trời nam
Những dòng họ trải suốt nam và bắc
Bỗng một ngày ăm ắp ngoại bang

Quê mình đấy thành chiến trường giết giặc
Vùi cốt xương khác giống dưới đất này
Chúng tôi trở về nơi một thời trận mạc
Trở về miền đổ máu đuổi giặc Tây

Đâu lầm lỡ cuộc chiến ta từng trải
Đâu dễ làm lẫn lộn hướng mình đi
Ta trở về tìm miền tuổi trẻ
Máu người xưa vùng đất gọi ta về.

21/4/15

Saturday, April 18, 2015

Lời của vợ liệt sĩ Nguyễn Trung Tính

Tội này em tội với anh 
Ngói lành chẳng đủ che hình anh yêu 
Nắng vẫn nắng mưa vẫn nhiều 
Bao nhiêu nước mắt dìm chiều đơn côi 
Tây Nam ở mô anh ơi ?
Mà xa xăm thế để người biệt vong 
Em là gái đã có chồng 
Nhà em rách nát còn trông anh về 
Em gom thóc chẳng đựng bồ 
Tường nghiêng anh ngắm nắng bò  ngang hiên 
Chỉ mình anh chỉ mình em 
Mấy mươi năm lặng đi tìm trong đêm 
Can lộc bao rú bao nghèn 
Bao nhiêu hoa tím kết viền hoa tang 
Chẳng làm nên chút khang trang 
Hồn em nghèo với với hồn anh hết  đời 
Tội này em gánh anh ơi 
Trách cao xanh lại thương người cao xanh 
Chỉ mình em nhớ đến anh 
Thế là đủ thế là mình của nhau 

Lời của vợ liệt sĩ Nguyễn Trung Tính

Vợ Liệt sỹ và bài thơ của Nguyễn Trọng Luân

Đây là chuyện đọc được bên QSVN mà tôi chuyển về mời các Đ/c đọc
Ngôi nhà của vợ liệt sỹ.

         Tôi và đại tá Phạm Tiến Thích nguyên huyện đội trưởng Can Lộc, phó chủ tịch thường trực hội CCB huyện, thường trực Ban LL CCB sư đoàn 341-Hà Tĩnh đi thăm nhà chị Lê Thị Quý vợ liệt sỹ Nguyễn Trung Tính.
         Liệt sỹ Nguyễn Trung Tính, ở đại đội 3, tiểu đoàn 7, trung đoàn 266, sư đoàn 341 hy sinh ngày 18 / 7 /1978 tại Châu Thành, Tây Ninh (BGTN).
        Biết gia cảnh Lê Thị Quý vợ liệt sỹ, cô đơn, nghèo khó, chúng tôi đến khảo sát thực tế để vận động đồng đội  và doanh nghiệp, cơ quan có lòng hảo tâm tài trợ, làm nhà tình nghĩa cho chị. 
         Từ thị xã Hồng Lĩnh vào thị trấn Nghèn, tôi được đồng chí Phạm Tiến Thích dẫn đường, vượt cầu Viên Chăn đi qua các đoạn đường nhựa, đường đất dài khoảng 7km đến làng Cứu Quốc, xã Thuận Thiên ( Phúc Lộc cũ). Nhà chị Lê Thị Quý ở ngay đầu làng. Ngôi nhà nằm lọt thỏm giữa một khoảnh đất rộng 500 mét vuông. Trước khi vào nhà phải đi qua con ngõ nhỏ đầy cỏ dại. Bước vào trong sân, tôi ngỡ ngàng bởi ngôi nhà chị Quý như cái chuồng gà. Một ngôi nhà lụp xụp được xây bằng những viên gạch vở, táp lô vở, những viên đá to bằng quả bưởi… loại vật liệu xây nhà này được chủ nhân nhặt từ phế liệu của ai đó vứt bỏ ngoài bãi rác. Vữa xây không có xi măng, chỉ có vôi với cát, Tường xây không có chất kết dính  tạo nên những đường nứt, vở ngang dọc có thể đổ bất cứ lúc nào. Vào ngồi trong nhà tôi có cảm giác sợ ngôi nhà có thể bất chợt đổ sập xuống đầu. Mái nhà là những thanh mèn mục nát, đỡ những viên ngói gập ghềnh. Nhiều viên ngói bị vở đôi, sứt góc cạnh được che chắn bằng các  miếng bao bóng, giấy caston đã bị nước mưa làm mục lổ chổ. Ngồi trong nhà ánh sáng lốm đốm dọi xuống nền nhìn như ngồi dưới bóng cây thưa lá.
       Chị Quý ngồi tiếp chúng tôi tại cái giường một, rả giường vênh váo, không có chiếu. Tôi  bảo:
-       Chị lấy cái chiếu trải lên ngồi cho êm chứ?
 Chị Quý ngượng ngùng trả lời:
-       Chiếu bị ướt mưa, mục nát hết rồi bác ạ.
      Tôi nhìn ba bao bì mỗi bì đựng khoảng 1/3 khối lượng  đặt chồng lên nhau, phía dưới kê những viên tap lô đã vở đôi đặt giữa nhà, hỏi chị  Quý: 
-   Bao bì đựng cái gì trong đó, sao chị không để trên giường lại để giữa nhà cho vướng?
 Chị Quý rụt rè thưa:
-   Dạ! Bì em đựng lúa. Lúa của em còn chừng đó, ăn cho đến mùa gặt này. Bao bì để đó khi có
mưa di chuyển tới chổ không bị ướt dễ hơn. Để lên giường nước mưa ướt giường thấm vào bì lúa. Chẳng nhẽ lại kê thêm trên giường vài viên táp lô dưới bao bì trông kỳ quá bác ạ.
      Tôi chui qua cữa vào gian nhà trong. Gian trong kê một giường rộng một mét hai, Trên giường trải  tấm nệm vải màu trắng đỏ, hoen úa. Nệm mềm nhủn, chổ dày, chổ mỏng, nhăn nhúm. Một cái màn trắng đã chuyển sang màu đất, trên đình màn mạng nhện chăng đầy, dính bụi trông như nhà hoang. Cạnh giường nằm có một hộc đựng vạt dụng bằng xi măng, khối lượng khoảng 250 lít, dưới đáy hộc đang có nước mưa lấp xấp vì trời mới mưa hôm qua. Trong phòng mùi mốc ẩm bốc lên cảm giác tanh hôi, khó chịu.
       Tôi bảo chị Quý thắp cho anh Tính nén hương và cho tôi chụp kiểu ảnh.. Tôi loay hoay, né tránh mãi mới tìm dược chổ không bị loá sáng bởi lốm đốm ánh mặt trời trên mái nhà dột dọi xuống. Khi chụp riêng tấm ảnh của liệt sỹ Nguyễn Trung Tính tôi tìm mãi không lấy đâu ra chổ đứng tránh được loá nắng các lỗ thủng từ mái nhà. Tôi nói với liệt sỹ:
-   Đồng đội cho tôi đưa ảnh xuống chụp một kiểu để đưa lên mạng cho anh em nhìn rõ hơn. Chắc
liệt sỹ Nguyễn Trung Tính cũng đồng ý và tôi đã chụp được bức ảnh dưới đây.
      Tôi tận mắt nhìn thấy cảnh người vợ liệt sỹ nghèo khó ở một vùng quê nghèo khó mà thấy nao lòng.
                            Lời của vợ liệt sĩ Nguyễn Trung Tính 

Tội này em tội với anh 
Ngói lành chẳng đủ che hình anh yêu 
Nắng vẫn nắng mưa vẫn nhiều 
Bao nhiêu nước mắt dìm chiều đơn côi 
Tây Nam ở mô anh ơi ?
Mà xa xăm thế để người biệt vong 
Em là gái đã có chồng 
Nhà em rách nát còn trông anh về 
Em gom thóc chẳng đựng bồ 
Tường nghiêng anh ngắm nắng bò  ngang hiên 
Chỉ mình anh chỉ mình em 
Mấy mươi năm lặng đi tìm trong đêm 
Can lộc bao rú bao nghèn 
Bao nhiêu hoa tím kết viền hoa tang 
Chẳng làm nên chút khang trang 
Hồn em nghèo với với hồn anh hết  đời 
Tội này em gánh anh ơi 
Trách cao xanh lại thương người cao xanh 
Chỉ mình em nhớ đến anh 
Thế là đủ thế là mình của nhau 

Thơ Nguyễn trọng Luân

Tết ở quê

Lại sắp đến tết rồi. Bây giờ nghỉ hưu, chẳng phải lo lương, thưởng quà tết biếu xén cấp trên, lo ngoại giao… Nhẹ tênh. Chỉ còn lo việc ăn tết ở Hà nội hay về quê để còn lên kế hoạch với vợ con.


            Nghĩ đến quê, lại vừa mừng vừa tủi. Quê mình nghèo thật nhưng bây giờ cũng đã có đủ cái ăn. Buồn vì ở quê cha mẹ đã đi cả. Mẹ cha nằm trên cánh đồng mà mỗi lần về đến đầu làng là nhìn thấy bia mộ thấp thoáng sau bãi ngô non.
           Tình cờ, một hôm dò trong máy tính, thấy bài viết của thằng con trai út. Từ lâu lắm rồi mà mình đọc cũng rơi nước mắt. Hóa ra nó nghĩ còn sâu sắc hơn mình. Từ hôm đó mình nhìn con thấy không phải thằng cu của mình nữa. Nó lớn thật rồi.

Tết ở quê
 Nguyễn Xuân Nam 
Về  quê  ăn tết đối với tôi đã thành thông lệ. Đến nỗi mà bạn bè cứ gần tết họ lại hỏi bao giờ mày về quê? Bao giờ thì xuống Hà Nội? Với họ chắc chẳng có ai có không khí tết giống tôi. Cứ đến 25, 26 Tết bố mẹ tôi và các chú chuẩn bị đồ Tết để có những ngày tết no đủ. Nào là gạo ngon nhất, mì chính, nước mắm, rau củ cũng ngon nhất... Đến 27 Tết tôi bám đít bố mẹ và mọi người cùng về quê... Có lẽ đón Tết ở quê mới thấy được không khí Tết truyền thống thực sự. Sáng sớm 28 Tết năm nào cũng vậy, những người đàn ông khoẻ mạnh trong nhà xúm lại bắt con lợn thật béo, thịt thật ngon và cùng nhau mổ lợn. Cảm giác sáng sớm ngày hôm đó chắc sẽ còn mãi đọng lại trong tôi, trong kí ức tuổi thơ của tôi. Tôi sẽ không quên được những sớm mai bị đánh thức bởi tiếng lợn kêu eng éc. Mắt mũi cay sè vùng dậy dưới cái lạnh se se mưa trắng mờ vườn tược. Nồi nước to tướng sôi ùng ục, khói cay mắt, cái mùi khói đun nước mổ lợn mà ở thành phố không bao giờ có. Lũ trẻ con chúng tôi chạy ra xem các anh các chú mình thể hiện sức mạnh. Mổ xong mọi người cùng lấy phần thịt mình được chia. Mỗi nhà một phần. Lũ trẻ con chúng tôi thì “thủ” được cái bóng lợn. Cả lũ không có bóng đá nên tìm cách thổi quả bong bóng đó lên và chia đội đá như mấy anh thanh niên. Vui thật là vui.
Ấy là những cái Tết vui khi còn cả ông và bà nội tôi. Đêm giao thừa cả nhà lần lượt chúc Tết ông bà. Bố tôi bao giờ cũng xúc động nói lời chúc ý nghĩa nhất, mong ông bà luôn mạnh khoẻ và sống lâu cùng với con cháu. Ông bà đã phải chịu khổ nhiều rồi, bây giờ bố mẹ tôi và cả cô chú nữa đều đã có công việc ổn định, và có chỗ đứng trong xã hội. Chỉ mong ông bà mạnh khoẻ để các con các cháu đền đáp công ơn. Nhưng thời gian đó không có nhiều với ông bà. Ông trời thật không công bằng cho ông bà được được hưởng thụ chút  sung túc, những đáp đền nhỏ nhoi  của con cái đã lớn khôn. Thật đúng là con cái chẳng bao giờ có thể đền đáp được công ơn cha mẹ.
Bây giờ ăn tết ở quê chẳng còn ông bà, chẳng còn được vui như trước nữa. Vẫn mổ lợn, vẫn gói bánh chưng. Lũ trẻ con ngày nào giờ đã lớn cả và không còn có những trò nghịch ngơm như ngày xưa nữa. Năm nay chỉ có nhà tôi về ăn Tết, còn cô chú thì bận việc ở Hà Nội không về được. Năm nay nhà tôi vẫn mổ lợn nhưng tôi lại không thấy được buổi sáng sớm của tôi ngày xưa. Cả ông trời nữa, đúng là thật oái ăm. Tết nhất gì mà nóng như mùa hè, nắng chang chang. Mọi nhà phải lôi quạt ra ăn cơm mùng 1. Đêm giao thừa không còn ông bà để cho chúng tôi chúc mừng. Mỗi nhà tôi, cả cô và thằng em nữa. Ngồi xem bắn pháo hoa qua TV thật vô vị. Có lẽ chưa  bao giờ lại có 1 cái tết tồi tệ như năm nay. Phút sang canh, bâng khuâng nhìn ra vườn. Đêm tràn ngập cái không khí vừa lạnh, vừa ấm giao hoà. Bố và mẹ rưng rưng thắp hương. Ảnh ông bà nội mờ trong những sợi khói hương cong vòng như dấu hỏi.
Tết năm nay để lại cho tôi nhiều ấn tượng. Tôi buồn. Mới  đầu năm mà  toàn nói về chuyện buồn như thế sẽ bị dông. Nhưng không thể không nói, định viết về một cái gì đó ấn tượng về tết nhưng có vẻ khó qúa. Những ngày tết ở quê tôi chẳng đi đâu, mà cũng chẳng biết đi đâu. Chỉ loanh quanh ở nhà và chăm sóc chú mình. Chú sống ở quê, chú không được may mắn như mọi người trong nhà. Từ khi bà nội sinh ra chú, chú rất bình thường, nhưng được vài tháng chú bị ốm và nó để lại di chứng khiến chú có vấn đề về thần kinh. Ai cũng thương chú và lo cho chú. Tôi cũng vậy. Thương chú nhiều lắm. Nhìn thấy chú như vậy mà chăng biết làm gì, thấy chú lên cơn, chú khóc chú bảo chú lên cơn đấy mà lòng tôi như bị dao cứa vậy. Biết nói với chú gì đây hả chú. Cháu thương chú nhiều lắm. Sắp hết tết rồi. Biết mọi người sắp phải xuôi tàu chú buồn lắm, chú hỏi tôi bao giờ thì cháu đi mà mắt chú rưng rưng. Chú mong đến hè. Vì tôi hứa hè tôi về với chú, tôi rất sợ thất hẹn, bởi chú chỉ mong có vậy thôi. Mọi người nghĩ chú không biết gì, nhưng nói chuyện với chú tôi mới biết chú hiểu mọi điều. Sao xưa nay mọi ngưòi trong nhà tôi không nghĩ thế nhỉ??? Chú tâm sự với tôi, dặn dò tôi khi nào về mua cho chú cái áo. Chú ơi  hứa với chú hè này cháu sẽ mang biếu chú áo mới nhé.
Không biết bao giờ lại có Tết thật là vui như ngày xưa. Ông bà mất rồi  khiến con đường về quê trở nên xa lắc. Tôi chỉ muốn níu kéo tuổi thơ mà không được. Chỉ còn chú, chú vẫn coi tôi là trẻ con và trong tôi thì người chú tàn tật chẳng bao giờ già. Với tôi, tết quê là hình bóng ông bà nghèo khổ và người chú tật nguyền, là những cái bánh chưng có mồ hôi tay của bà là những sớm mai lạnh thấm đẫm sương, là con đường chen chúc về ga tàu cũ, là tiếng còi tàu vừa vui, vừa buồn, là nỗi nhớ không dứt… xa xăm.

Tôi chỉ cầu mong mỗi cái tết mọi người trong gia đình tôi gắn bó hơn với nhau và gặp nhiều điều may mắn.
                                                                   
          Đan Hà - Mùng 3 Tết Đinh Hợi 

Kỉ niệm về bài hát “Trên đỉnh Trường Sơn ta hát"

D76 huấn luyện quân tới đầu tháng 12 thì đi dã ngoại 12 ngày. Đường dã ngoại thì cũng na ná như các tiểu đoàn khác trong F 304B. Bắt đầu từ Phú Bình, qua sang Tân Yên, qua đất Yên Thế - Bắc Giang, rồi trèo qua dẫy núi ngăn cách giữa Bắc Giang và Võ Nhai  rồi quay trở lại Trại Cau đánh xe tăng là kết thúc.

       Trước khi dã ngoại C2 có một lớp Học viên sĩ quan chính trị về thực tập, họ cũng tham gia hành quân dã ngoại luôn. Đây là những cán bộ đại đội tiểu đoàn tương lai và tất cả đã qua chiến đấu ở chiến trường. Tuy vậy họ cũng trẻ, chỉ xấp xỉ 24, 25 tuổi mà thôi. Ở B3 có 6 người, trong đó có hai anh tên là Trường Đoàn và Hải Đoan hát rất hay và chơi đàn ghi ta tuyệt vời. Ba hôm dừng lại ở Trại Cau, đại đội tổ chức một đêm văn nghệ. Tôi nhớ đêm ấy B52 đánh vào Hà Nội. Không đèn đuốc, giữa một đám ruộng trong mùa đông mà chương trình văn nghệ thật tuyệt. Anh Trường Đoàn và Hải Đoan hát hay thế. Sau ngày Nguyễn Trường Đoàn trở thành nhạc sĩ quân đội. Sau đêm ấy anh Đoan tặng mình cuốn Tạp chí Văn nghệ Quân đội có in bài hát “Trên đỉnh trường sơn ta hát” ở mặt bìa sau số tạp chí tháng 10/1972. Và tôi tập bài hát ấy ngay sau khi dã ngoại về.
        Hai tuần sau lên đường đi B.
       ...Sáng mùng một tết năm đó, tiểu đoàn hành quân rất sớm đi từ T5 tới T6, vì phải leo một cái dốc cao 2 tiếng đồng hồ. Chắc các bạn còn nhớ lên đến T5 là bắt đầu trời nắng, nên sáng ấy nắng chan hoà trên đỉnh núi. Leo lên đỉnh núi nhìn quay lại đoàn quân bám nhau lên dốc đá. Tiểu đoàn này nối tiểu đoàn khác. Không ai xui cả thế mà bỗng dưng đứng trên đỉnh núi tôi cất lời hát  “Trên đỉnh Trường Sơn ta hát bài ca ...” . Trong cuộc đời mình chưa bao giờ tôi hát một bài hát nào được như hôm ấy. Tôi không thấy mệt nữa, mồ hôi tràn cả vào miệng, tiếng hát vang thật xa, đập vào vách núi. Hàng ngàn người lính các đơn vị cùng đi hôm ấy như được tiếp thêm sức lực. Tôi còn nhớ một cán bộ già lên đỉnh dốc vồ lấy tôi: cám ơn đồng chí. Hát đi rồi hát lại. Anh em trong đại đội ngồi nghỉ lại cùng hát. Mạnh Tiêu K4, Thịnh k6, Khang K4 ... hoà theo. Nắng trên đỉnh Trường Sơn vàng ươm lên mũ chúng tôi. Nhìn xuống một biển mây trắng xoá như đại dương.
         Ba mươi chín năm qua, kỉ niệm về một lần hát bài hát  “Trên đỉnh Trường Sơn ta hát” còn rưng rưng trong tôi. Đời người mấy lần có được. Tôi kể lại chuyện này với các bạn và chắc các bạn cũng vẫn nhớ.


Đường làng

Đi suốt đời những con đường tận đâu tận đâu
Có cả lúc ngẩng đầu cả lúc đầu không kịp vươn lên cao ngạo
Có những con đường mũ cao áo dài phấp phới
Tiếng ngoại quốc hoa chân múa tay thật ảo
Vô khối cặp mắt nhìn vô khối kẻ vỗ tay

Thế mà chiều nay đi trên khúc đường lở lói ngày xưa
Con đường chân đất lội bùn đến lớp
Bỗng thấy mình không thể oai được nữa
Dấu chân xưa bê bết đất quê mình
Con đường xưa mùi phân trâu ngái ngái vũng sình

Con đường chiều nay lúa xanh vẫn xanh
Bùn không nhiều như ngày xưa nữa
Vẫn còn nguyên tiếng chào của xóm giềng ngày ta về làng cũ
Tên mình liền với tên cha
Đi suốt đời chẳng thể qua nổi tên mình rất thủa rất xa

Cha mẹ mình không mang tên đường
Nhưng tên mình thì làng quê vẫn gắn vào tên Cha Mẹ
Sẽ chẳng bao giờ hết màu xanh của lúa
Và tên con núp dưới bóng đã khuất rồi
Ngẩn ngơ tìm đâu chẳng thấy áo tơi
Còng rạp lúa tháng năm tháng mười quê cũ

Bỗng thương thế những ai không có quê mà về nữa
Chiều nay tôi gọi tôi ở giữa đồng làng

Tháng 4/2015

Sunday, April 12, 2015

Thuận



Bây giờ tôi vẫn không gặp lại Thuận. Ngần ấy năm trời chỉ nghe được một thông tin là Thuận đi buôn chuyến đường dài Nam Bắc. Ấy là tôi nghe anh Hỏa ở C17 công binh nói gặp nó trên đường, anh ấy bảo nó khỏe và phong trần lắm, nó đưa cho anh mấy bao thuốc SaMit rồi biến mất như lúc xuất hiện trên chuyến tàu chợ HN- SG những năm cuối 80.


… Thuận vào bộ đội 17 tuổi học vừa hết cấp 2. Nó khỏe và nhanh như sóc. Nhưng trông rõ là thư sinh, da trắng mắt sáng và cái cười thì rõ tươi. Tôi về C7 D8 E64, Thuận là A trưởng rồi. Đại trưởng xuống B tôi, nó chả thèm chào, nó thản nhiên gọi ông này ông nọ khiến tôi thấy lạ, hỏi sao dám coi thường cán bộ thế ? Nó lườm lườm nhìn tôi, mày mới vào biết gì. Nhưng thấy cán bộ C trưởng, Chính trị viên cứ thân tình như không với Thuận mặc dù thấy nó nói nhiều lúc khó nghe bỏ mẹ mà các ông ấy không giận gì nó. Thật khó hiểu. Thế thì tìm hiểu.

Chuyện này lại là chính từ C trưởng kể cho tôi nghe.

Nhập ngũ tháng 3/67 từ Hà Tây. Đợt quân này về sau rất nhiều người trở thành cán bộ chỉ huy của sư đoàn tôi. Thuận nói trơn tru: quê tao Đông Lao Đông La Hoài Đức Hà Tây. Cái câu này về sau tụi tôi cả trung đội đều thuộc. Đông La Đông Lao Hoài Đức Hà Tây. Cứ đọc ngược dọc xuôi nó bảo được tất, đúng tất. Tháng 1/68 F320A hành quân vào đánh Quảng trị. E 64 được phân công cắt đường 9 đoạn Đông Hà Cam Lộ cho chiến dịch Khe Sanh. Đánh cầu Thiện Xuân nó diệt 8 thằng Mỹ. Lúc ấy nó làm liên lạc, rồi rất nhanh nó làm A trưởng đánh Ba Thưng rồi đánh Hồ Khê, Thuận trở thành B trưởng. Sau chiến dịch đường 9 Khe Sanh, Mậu Thân, Thuận ra Bắc đi báo cáo thành tích chiến đấu ở các trường Đại học. Nó đi mấy tháng trời mới về đơn vị. 18 tuổi đẹp trai, vài cái bằng dũng sĩ diệt Mĩ khiến các nữ sinh thi nhau tặng khăn musoa và sổ lưu niệm. Về đơn vị, nó chia cho mỗi thằng trong B đủ một cái khăn và một quyển sổ, còn các tấm ảnh của các cô thì nó giữ lại. Nó cũng hí hoáy viết nhật kí. Nhưng cứ vài mươi trang nó lại bỏ dở, kêu mệt đầu bỏ mẹ. Nó tâm sự chữ mình xấu quá, chữ mấy đứa sinh viên đẹp ghê. Những năm 72, 73 ở Tây Nguyên, thỉnh thoảng nó lẩm bẩm cô này bây giờ chắc làm kĩ sư rồi, còn cô này thì làm cô giáo…

Lúc ở cùng B với nhau, sau này tôi hỏi sao mày khôn thế? rắn đẻ giờ nào mày cũng biết. Nó bảo khôn cái chó gì, lê la ở quê nghe chúng nó cứ bảo ra Hà Nội không cẩn thận là bị bắt nạt. Tao thấy hay hay, rủ nhau đi Hà nội… chúng tao cuốc bộ vài cây số bám tàu điện Hà Đông lên Ngã Tư Sở rồi lại về. Đi miết thành quen, truyền toa này sang toa khác bên ngoài thành toa nhoay nhoáy, thích lấy cái bánh mì nào là tao lấy được, oánh nhau với bọn Ngã Tư Sở chạy bỏ cha bỏ mẹ về tới làng Vạn Phúc vẫn tức. Tức quá vạch quần đái về phía Hà Nội rồi hôm sau lại ra nữa… Nó cười hàm răng thật trắng đều tăm tắp. Trông nó trẻ hơn cái tuổi Canh Dần nên dù tôi kém tuổi cũng cứ mày tao với Thuận. Nó thích tôi nên nó bảo ừ tao với mày cứ mày tao còn thằng Phụng Bê phó mày mày tao tao là tao đấm cho.

Tôi vào sau nên chuyện nó bị kỉ luật tôi băn khoăn quá mà chưa dám hỏi. Một hôm kiếm được nhúm thuốc rê hai thằng rúc vào hầm nằm hút. Hút ở ngoài lính tráng túm lại, lấy đâu cho xuể. Tôi mạnh dạn hỏi sao lại bị xuống A trưởng? Nó quay sang tôi, ấy là còn may đấy các ông ấy định đuổi tao về Bắc đấy, tao bảo đuổi đi tao ra luôn… Đếch dám đuổi. Thu dung mãi trên D bộ lại đưa tao về đây. Kệ mẹ đời , sao tao ghét cái thằng chính trị thế chứ, cái thằng Chinh móm ấy mày biết không? À Chinh móm thì tao biết Phó Chủ Nhiệm chính trị trung đoàn rồi đấy. Thuận trầm ngâm, mẹ kiếp đánh Nam Lào C mình thương vong nhiều chỉ còn tao và hai thằng nữa với vài thương binh trong khi đó tử sĩ hơn chục ca không mang ra được, cho liên lạc về lấy dự bị lên, lão Chinh móm bảo phải tự thân giải quyết, địch thì cứ nửa tiếng lên một lần, tao cho hết thương binh tử sĩ gom vào hầm ngụy trang kín rồi tập trung toàn bộ lựu đạn, tao đánh tất bằng lựu đạn, may mà C6 bên Kiều Thế đưa một B lên giúp. Hôm sau được lệnh đưa tử sĩ về phía sau, tao xộc đến thẳng Tiểu đoàn chỉ vào Chinh móm tao chửi. Thằng cha sợ vãi đái, may mấy thằng ở truyền đạt D bộ can ngăn, tao thôi. Thế là tao bị kỉ luật. Họ bảo tao định giết cán bộ, rằng tao định bỏ trận địa, tao nghe ù cả tai và thấy mình tội to quá. Thực ra tao chỉ cú lão Chinh móm thôi, lúc trước hắn làm chính trị viên đại đội lão ấy ghét tao rồi. Ông Đinh Thế Mỹ gọi tao lên chửi một trận, ừ tao ngấm, nhưng kệ nó sự đã thế rồi… nóng mất khôn, chức tước gì đâu, tao chỉ buồn chuyện khai trừ đảng… Nó trầm ngâm còn tôi thì chả biết nói gì vì tôi là thế hệ sau.

Tôi may mắn được gặp Thuận. Trận nổ súng đầu tiên nó bảo, mày cứ đi với tao đ. sợ. Hôm đó đánh địch ngoài công sự, nó bảo tôi, địch đi giải tỏa lập chốt luôn có nhiều tầng, mày đừng tin là đánh hết một vòng ngoài là xong đâu đấy, nó có nhiều lớp bố trí nữa nghe chưa. Xong một loạt là di chuyển thật bí mật đợi nó bộc lộ hỏa lực mà đánh tiếp. Nhớ là di chuyển theo tao. Quả thật trận đầu đi với nó vững dạ thế. Nó ít bắn lắm cứ US mà ném. Nó thấy tôi bắn 4, 5 viên AK liền, nó gằn giọng bắn cái đ. gì thế ? 1, 2 viên thôi. Tôi hiểu ra và chạy theo nó cung cúc.

Tối ấy, vớ được mấy gói gạo sấy của địch đổ nước vào bóp bóp một hồi nhai với nhau, nó bảo mày cũng được đấy, dần dần sẽ khôn lên, rồi nó đề nghị đại đội tôi được bằng khen… vì trói được hộ nó một tù binh.

Tháng 8/1973 tôi được gọi lên ban tuyên huấn trung đoàn 2 tháng viết lách giúp ban chính trị. Ở đó tôi lại biết một chuyện về Thuận. Anh Kiều Thế phụ trách tôi người thành phố Thái Nguyên nói với tôi: mày ở C7 chỗ thằng Thuận hả. Tôi vâng. Anh ấy kéo quần rồi vạch bụng lên chỉ vào những vết sẹo cháy nham nhở mà bảo: không có thằng Thuận tao “củ“ rồi. Trông vết cháy lân tinh thịt da sùi lên đến khiếp... tháng 4/72 đánh 1015, anh Thế là c viên phó c6. Suốt ngày 14/4 gần dứt điểm thì máy bay hủy diệt trận địa bằng cả bom na pan. Kiều Thế bị thương nằm trên mỏm 3. Vận tải khiêng tử sĩ và thương binh nườm nượp. Bộ đội ta hi sinh nhiều quá, vận tải vào lấy tử sĩ cũng thương vong nên phải lấy cả bộ binh, trợ chiến và hậu cần E bộ vào vận tải. Tối ấy, thương binh và tử sĩ mang ra gần hết đại đội phó Thuận đang bị thu dung ở E bộ hỏi: Kiều Thế C6 đâu? Nghe nói Thế bị thương cơ mà? Vận tải bảo không thấy. Nó bảo không được, không được rồi nó vác súng quay vào, dọc đường nó kéo thêm hai vệ binh nữa. Kiều Thế nằm rên hừ hừ những vết cháy loe loét. Thế nặng lắm dễ đến hơn sáu chục kí, bọn vận tải cứ chọn thằng nào thấp bé nhẹ cân khiêng trước. Thế bị đùn lại sau. Và bây giờ nằm mê mết trong đêm. Kiều Thế được cứu sống . Vài tháng sau ra viện về trung đoàn bộ làm trợ lí tuyên huấn còn Thuận làm A trưởng vệ binh . Chuẩn úy Thuận bây giờ là thượng sĩ. Kiều Thế lên trung úy. Cũng nhiều lần Thuận vác súng đi công tác cùng Thế. Kiều Thế nể Thuận lắm nhưng Thuận thì coi như không có chuyện gì xảy ra trước đây, một điều thủ trưởng hai điều vâng thủ trưởng. Đầu năm 73 nó xin về đơn vị chiến đấu. Tôi ở với Thuận từ lúc ấy.

Lúc đầu tôi lấy làm lạ sau thì thấy C trưởng nể Thuận là phải. Những lần hành quân chiếm lĩnh, Thuận trở nên lầm lì và rất già. Nó bảo không nên thế này, không nên thế kia. B trưởng và C trưởng đều phải cân nhắc lại. Thì ra bao nhiêu lần dẫn quân đi đánh kinh nghiệm rút ra từ bom, từ pháo, từ kẻ thù, nó ngấm dần làm thành bản năng chiến đấu. Nó bông phèng nói văng nói vít ở đâu chứ còn khi chiến đấu thì nó rất kiệm lời và hành động thật quyết liệt. Lúc đánh nhau mà thấy nó nói ấy là lúc nó chửi. Đi với nó thật vững dạ.

Chiến dịch Tây Nguyên 75. Thuận làm bê phó, tôi lên trinh sát tiểu đoàn. Hôm giải phóng Phú Yên quay về đường 7 gặp nhau nó thấy tôi hút toàn Ru Bi, nó cười khẩy rồi đưa cho tôi mấy bao Capstan. Nó bảo, hút là phải hút cái loại này, mày tẩm thế. Tôi cười bảo vớ được cái gì dùng cái nấy. Nó bảo bọn mày vào kho chi khu Củng Sơn sớm thế mà ngu.

29/4/75 là trận cuối cùng với nó. Phát hỏa từ 5 giờ sáng thì khoảng 10 giờ sáng thấy nó bò từ đường số 1 ra đồng. Tôi và nó nằm nép vào bờ ruộng dưa. Cái cổ nó ngoẹo về một phía. Cái băng quấn như thằng quấn khăn phula máu loang lổ. Nó bảo đạn thẳng đấy. May quá đ. đứt họng, tôi cười bảo đứt họng thì mày mờ đời rồi còn gì nữa. Nó bảo cắm cho nó điếu thuốc vào mồm, nó rít tê mê rồi đột nhiên nó bảo thằng Hòa Chọi bắn dính dân. Rồi nó chửi đ. mẹ thằng chó chết. Tôi chỉ đường cho nó bò về mấy ruộng dưa nơi phẫu C24 đóng ở đó. Thế là chia tay nhau từ lúc ấy. Tôi cuốn theo đơn vị vào Tân Thới Nhì ngay đêm đó. Đầu tháng 5 chúng tôi ra Củ Chi nó đi viện chưa về. Chả hiểu vết thương kiểu gì mà mãi cuối tháng 7 nó mới về đại đội. Thì ra đêm 29/4 số bị thương đưa về bệnh viện công binh ở Hóc Môn rồi tiếp sau đó là về Viện Cộng Hòa. Thuận gặp may từ ấy. Đêm ở Hóc Môn những thằng què thì nằm rên, còn nó hai tay hai chân lành lặn nó lần mò khắp xó xỉnh và… nó lấy được rất nhiều tiền. Chúng nó nói lại rằng. Nó không lấy tiền Trần Hưng Đạo mà lấy toàn tiền Tây. Nó bảo, cứ cái anh này mà lấy tiền kẻ thù thế nào mà chả phải hủy? Sao mà nó khôn thế nhỉ! Hồi ấy đô la chỉ nghe nói thôi chứ mấy anh nào biết mà lấy. Thế mà nó lại tìm kiếm đô la. Nó bảo sưu tầm cho vui. Thật không tin nổi. Những ngày đầu tiên giải phóng các thầy thuốc 108, 103 ào ào vào các quân y viện miền Nam để phục vụ thương binh. Thuận về Cộng Hòa nằm và gặp cô đồng hương Hà Đông là một y tá trẻ măng của viện 103. Chỉ mấy tháng thôi họ đã kịp yêu nhau và Thuận với cô y tá đã kịp nghĩ tới hôn nhân và mua nào là tủ lạnh, ti vi, máy khâu xe máy và cô y tá là người vận chuyển ra Bắc theo con đường xe quân y.

Thuận về đơn vị chu toàn công việc của một B phó. Tôi thấy nó quấn cái mùi soa vào vết thương ở cổ liền hỏi vết thương còn làm sao nữa mà quấn khăn thế. Nó bảo quấn cho nó đỡ ngứa. Thằng Khuất Duy Hoan bảo, nó quấn để nhớ con y tá đấy mà. À thì ra cái mùi soa là của người yêu nó. Tháng 10 tôi ra Bắc về học lại. Nó tặng tôi cái SEIKO 5. Chao ôi là sướng. Nó bảo mang về mà đi học không thích thì bán lấy tiền mà tiêu. Tao cũng ra thôi, tao về là lấy vợ ngay đấy.

Ngày tôi ra Bắc, Thuận dẫn trung đội đi đắp trường bắn bên ngoài Đồng Dù không gặp nhau. Thế là xa nhau. Tôi nghe nó cũng ra quân ngay năm 76 và cưới cô y tá viện 103. Rồi lại nghe nó đi buôn đường dài. Thời gian trôi vùn vụt nhớ lại nhau, giở cái ảnh cũ xưa ra thấy nó cười thật tươi và hàm răng đều tăm tắp. Lại nhớ chuyện nó bị bọn Ngã Tư Sở đuổi chạy về đến Hà Đông quay lại đái một bãi về phía Hà Nội cho bõ tức. Tôi tin Thuận đi buôn cũng sẽ giỏi. Có thể trong cuộc sống bầm dập này Thuận không hỏng, mặc dù có thể nó cũng… hư.