Monday, November 9, 2015

RỪNG ĐÓI ( Trích đoạn -8)

TRÍCH TRONG " RỪNG ĐÓI"
.........
8
Chúng tôi di chuyển thật. Bùng biêng ba lô súng đạn đến một khu rừng nhiều những cây trứng cá. Đại đội tôi ở gần một cái trạm cũ của đường dây mặt trận B3. Gọi là trạm chứ chỉ có bốn người, họ chuyên lo phục vụ những chuyến gùi hàng từ Cao Miên về B3. 

Trong suốt những ngày ở kiềng này, chúng tôi chỉ được một lần gặp trung đội gùi thồ ấy. Nhưng chỉ một lần thôi, gặp họ mà chúng tôi thấy mình đổi khác. Chỉ từ hôm ấy không thằng nào kêu đói ra mồm nữa.
Chiều ấy thất thểu từ các cánh rừng về. Đứa nào cũng tay ôm rau rừng, đọt chuối hay xâu mộc nhĩ với vài cái nấm. Súng AK quàng sau lưng. Mặt mũi xanh như tàu lá chuối hơ lửa tai tái. Thằng Quyết đi đầu đột nhiên dừng lại. Thằng đi sau thấy Quyết dừng tay vội nắm ngay lấy súng đẩy ra phía trước. Thằng Quyết :
- Suỵt, có tiếng con gái. 
- Ừ nhỉ, tao cũng nghe tiếng. 
Thế là ai cũng nắn lại mũ, ôm mớ rau cho ngay ngắn cứ như có gái ngay trước mặt mình. Cái sự làm dáng trước đàn bà của thằng đàn ông, nó chả cần không gian đẹp. Trời sinh ra đàn ông, đàn bà nó đã thế rồi. Ngay cả khi hiểm nguy chết choc, cứ có đàn bà là đàn ông bỗng nhiên phải đĩnh đạc đàng hoàng. Thượng đế dạy thế. Trước mặt đàn bà, thằng lính có bị thương cũng phải bị thương đàng hoàng, mà có chết, cũng phải chết cho đàng hoàng.

Tới bãi cây cổ thụ gần ngôi nhà nửa chìm nửa nổi của trạm. Thằng nào cũng à lên. Sau mấy tháng trời hôm nay mới thấy con gái người Kinh. Thằng nào cũng còn đang há mồm nhìn những mái tóc dài và bộ ngực căng đẫm mồ hôi thì họ đã ríu rít:

- Chào các eng bộ đội. 
- Các eng ơi cho em ăn canh rau với.
- Vô nghỉ eng ơi
Một trung đội gùi thồ đang chuẩn bị nấu ăn. Họ cũng chỉ có 3 lạng một bữa. Anh giao liên cho họ mấy nải chuối xanh và lon muối. A trưởng Lan quay sang bảo thằng Hải và thằng Thọ về nấu cơm còn cho tiểu đội ngồi nghỉ. Ngồi xuống bãi cỏ nhìn những bao hàng to vật vã. Tôi nhấc thử . Trời ơi! Nặng quá, tôi không đeo nổi. Có nhẽ gùi hàng này đến nửa tạ. Các cô cười lanh lảnh. Chui cha bộ đội Hà Nội nỏ gùi được mô. 55 kí đó hè. Nhìn họ ai cũng bết mồ hôi, áo lẳn vào thịt. Mấy cô nhóm lửa đun nấu còn thì ngằng buộc bao hàng sau một ngày hành quân. Họ bảo tất cả họ đều ở Quảng Nam. Giọng Quảng Nam nghe ròn vo. Cái cười của họ cũng ròn cứ như ném chùm quả sung xuống nước.

Tối hôm ấy sinh hoạt phổ biến kế hoạch tiểu đội nhoáng nhoàng. Chúng tôi lại mò sang chỗ các cô gùi thồ chơi. Cô B trưởng nói rõ to. Các đồng chí nghe hầy! Ngủ sớm lấy hơi mai ta vượt sông hầy. Giữ nghiêm kỉ luật bộ đội khu năm hầy. Họ mắc võng , mà không có tăng. Họ bảo tăng ni lông chúng em hiếm lắm chỉ có vải mưa thôi. Chúng tôi nghe mà bùi ngùi, vậy mà họ vẫn đi qua hết mùa mưa này sang mùa mưa khác trong bom trong đạn. Chúng tôi đến làm cả bãi khách vui lên. Các cô kêu bọn tôi hát, kêu bọn tôi kể chuyện Hà Nội kể chuyện chiến đấu. Thằng Quyết nói rõ to, bọn anh lính mới vô chưa oánh trận nào. Các cô cười vang, thảo nào các anh trông còn ngon quá hầy. Thằng Lương Lợi hỏi ngon là sao? Một cô nói nhỏ, ngon là muốn mần ăn các anh luôn đó. Trong đêm chả nhìn rõ mặt nhau nhưng tôi đoán thằng nào cũng sướng. Trong khi ai cũng vui, cũng cười, chỉ có võng của cô B trưởng không có chú lính nào ngồi cạnh. Tôi đi ra võng cô B trưởng ngồi xuống cỏ. Có tiếng động trên võng. Ra là cô dịch đít trên võng rồi bảo, anh ngồi lên võng đi, ngồi đất có kiến rừng đó. Chúng tôi ngồi xít vào nhau. Cái võng dù chùng xuống tận cỏ. Mùi mồ hôi con gái, mùi tóc như mùi lá rừng hăng hăng. Lần đầu tiên có một cơ thể đàn bà chạm vào người, tôi như cứng cả chân tay. Cô B trưởng hỏi, anh ở Hà Nội hả? Không, anh học ở Hà Nội thôi. Rồi, cô hỏi nhiều lắm tôi chả nhớ cái gì vào cái gì nữa, cứ thấy tóc cô quệt lên má lên mũi mình. Tôi nghe lõm bõm, em chỉ học đến lớp 5 rồi lên rừng theo bộ đội… Ba má ở dưới biển mần ăn cực lắm anh à… em cũng yêu một anh cùng quê nhưng ảnh hi sinh rồi… Cánh rừng như đung đưa chao bên này bên kia và rừng có gió. Gió bay mùi quả gùi thơm như phấn hoa. Bãi khách lặng như tờ. Thì ra họ cũng đang tâm sự với màn đêm về thân phận của chính mình với nhau, dù chả ai rõ mặt ai. Cô B trưởng thì thầm, mỗi chuyến đi của chúng em có tới cả tháng rưỡi mới về cứ. Chúng em cõng thuốc tây cõng thuốc lá từ Miên về. Cũng có đợt cõng toàn máy Vô Tuyến. Trung đội em đã nhiều lần bị cọp vồ mất mấy đứa. Tội quá anh hỉ, toàn đứa chưa có người yêu. Mà kì ghê cọp cũng thích gái trinh hở anh? Có đợt đi hai tháng. Hai tháng B em chả đứa nào hành kinh. Chúng nó khóc tu tu. Chúng nó sợ mất cái đàn bà. Em nói, tao đây nè 4 tháng nay cũng chả có hột nào chúng nó mới im. Cô B trưởng ôm ngang lưng tôi tự lúc nào. Ngực cô áp vào vai tôi cứng ngắc. Cái võng chùng hẳn xuống cỏ chúng tôi đã ngồi trên cỏ rất mềm, bên tôi người con gái cũng rất mềm. Một đêm ở chiến trường hương rừng cũng mềm như làng quê tôi thanh bình. Tôi nghe tiếng thì thầm ở ngực mình. Người con gái gục đầu lên ngực tôi. Anh có biết chúng em sợ nhất điều chi không? Đói. Gùi nặng thế đi ngày này qua ngày kia mà chỉ có 6 lạng gạo. Kiếm được gì ăn nấy, tuổi mười bẩy mà có lon gạo nuốt đánh vèo. Họ bảo rừng nhiều thức ăn lắm chúng em đâu có kiếm được như các eng. Lượm nấm , lượm mộc nhĩ nấu canh ăn mà đi té re quá trời. Những cánh rừng chúng em đi qua, rừng cũng đói anh à. Sốt rét thì sẽ khỏi nhưng đói thì dai dẳng đến tận lúc hi sinh. Em sợ… Cô gái ngẩng lên nói rõ gọn và dứt khoát. Anh mần em cái hun đi anh. Tôi im lặng. Và cô hôn tôi. Lần đầu tiên biết nụ hôn con gái là được hôn một nữ đồng chí ở chiến trường đến bây giờ tôi không nhớ mặt. Tôi không nhớ cái hôn ấy thế nào. Chỉ nhớ mùi cánh rừng, chỗ nơi các cô trú lại một đêm bên cạnh đại đội tôi. Đêm ấy cuối mùa khô 1972.
Sáng hôm sau chúng tôi lại đi đào sắn. Bãi khách hôm qua vắng lặng. Chỉ còn vài cành củi khô và cái bếp nguội tanh. Vậy là các cô đi sớm lắm và không có nấu nướng gì. Mấy con sóc đang chạy trên bãi cỏ tìm hạt cơm rơi thấy chúng tôi vội leo vụt lên cây. Cả tiểu đội không đứa nào nói câu gì. Chúng nó ngoái nhìn những gốc cây buộc võng của các cô gái đêm qua. Tôi ngửa mặt. Hoá ra trên đầu võng tôi và B trưởng đã hôn nhau đêm qua có một lùm hoa phong lan rất to tít trên ngọn cây cao không ai trèo lên được.
Hôm nay rừng như vắng hơn. Vạt đồi sắn vẫn như mọi ngày mà cây cối như thưa hơn. Tít trên trời cao ba vệt khói trắng B52 kéo từ tây sang đông mà không hề nghe thấy tiếng máy bay. Thằng Hoan tay ôm cái mảnh gỗ thùng đạn làm bàn thái sắn sang chỗ tôi đang hì hụi đào. Nó bảo, này tao còn thuốc rê. Chui vào bụi hút cái đã. Ừ phải, có mỗi điếu thuốc cuốn bé như cái cuộng lá sắn, mấy thằng túm vào không đủ mỗi thằng một hơi. Chỗ chúng tôi ngồi là bụi cây dưới một gốc cây dẻ rừng. Hoan nằm ngửa ra đất, nó kêu lên ối gai nhiều quá. Thì ra nó nằm lên đống quả dẻ khô. Hai thằng gom lại một đống rồi châm lửa nướng hạt dẻ . Ngồi cắn hạt dẻ lam nham bụi than, nó kể về vụ tối hôm trước với các cô gái Quảng Nam. Nó bảo, hoá ra tụi mình đâu có khổ. Bọn gái gùi thồ ấy còn khốn nạn gấp tỉ lần mình. Hai thằng trầm ngâm như ông cụ. Nghe chuyện bọn nó mình không dám kể chuyện bọn mình đói mày ạ. Thế mà cả tiểu đoàn, toàn những thân trai tráng kêu đói, kêu khổ kêu váng cả rừng. Hèn thật. Bọn mình là hèn đại nhân.......


Sunday, November 8, 2015

THẾ HỆ KHÔNG BIẾT MẶT CHA

Có một thế hệ sinh ra không biết mặt cha
Sinh ra từ luỹ tre bộ đội
Sinh ra từ “chiêu đãi sở “
Từ bờ ruộng nơi cha đã đóng quân
Có thế hệ sinh ra dưới gầm xe tăng
Ầm ĩ những là dầu mỡ
Sinh ra rất vội
Trước bình minh cha khoác súng ra đi và mẹ lững thững trở về

Thế hệ sinh ra trên đường hành quân vào hoả tuyến
Bom Mĩ rung chuyển
Những cuộc thụ thai trong lửa bom vẫn bình yên
Sinh ra trong tiếng cười đồng đội
Nệm ấm chăn êm màu cỏ úa của làng
Người khoác súng mang nước mắt người yêu lên đường
Mang cả tiếng yêu bật lên trong ngực thẳm

Ôi đất nước một thời nhiều bom đạn
Hoa ở nơi nào nơi ấy lại đạn bom
Một thế hệ sinh ra trong những trận chống càn
Những cuộc phun Di O Xin vào tân hôn đôi lứa
Những cồn cát trong những ngày đánh quân thù vào cửa bể
Những mùa xuân tiếng tổ quốc gọi lên đường
Thế hệ chúng tôi sinh ra lúc những trận đánh Pháp cuối cùng

Chúng tôi lại đi vào trận đánh
Lại những đứa con sinh ra tức tưởi
Chả bao giờ chúng hờn giận với cha ông
Rằng chúng đã sinh ra trong địa đạo, gió đồng
Rằng chúng được sinh ra từ người mẹ thiếu ăn èo ọt
Một lớp người đến tên cha mặt cha không biết
Một thế hệ trưởng thành chỉ có mẹ với ông bà
Nhịn ăn giành cho con cho cháu
Cặm cụi dựng xây
Non sông mình sau đắng lại đến cay

Một thế hệ Cha và Con ngày Bắc đêm Nam
Người ở lại uống vào lòng tủi nhục
Ôi đất nước còng vai gánh gió mùa gió bấc
Mấy chục năm con trẻ khát nước dừa
Thế hệ đau thương khi trở lại quê nhà
Ngơ ngác trước mảnh vườn in hằn máy chém
Đợi chờ ư sóng âm U Côn Đảo
Nước mắt hai mươi năm dồn tới sáng Hoà Bình

Một đất nước hàng chục năm sau đi tìm cha tìm chồng
Quanh quẩn những nghĩa trang
Nghĩa trang đến được đáy sông
Dựng trên rừng thẳm
Ơi những đứa con được sinh ra dưới gầm xe ra trận
Trên bờ mương tuyến lửa đường vào
Ghềnh thác U Minh mùa nước nổi
Đời con là một đời tìm cha
Chúng tôi đã già lỗi không ở những ngày qua
Chúng tôi cảm ơn những người đàn bà chúng tôi gặp một thời kháng chiến
Chúng tôi cám ơn những người cưu mang thế hệ tôi với lời thề non hẹn biển
Đất nước này còn nhiều người biết cám ơn không?

8/11/2015

Friday, November 6, 2015

Ký sự Quản Bạ



Những người lính Sư đoàn Đồng Bằng ở bên kia Cổng Trời
Chuyện tôi lên với các bạn 320A Hà Giang cứ như một sự kiện đặc biệt gì đó khiến các đồng đội Hà Giang cũng phấp phỏng vui mừng. Chả là từ vài hôm trước hội trưởng lính 320 Tuyên Quang- Hà Giang là Cường gù đã điện lên cho tất cả anh em rằng cụ Khuất Duy Tiến cử Luân lên để gặp anh em. Cường còn nói phải chụp được ảnh tất cả chúng mày đấy nhé. Thế là những người lính Đồng Bằng ở phía bên kia Cổng Trời đã tụ tập để đón tôi.
Chả cứ riêng tôi đâu, hễ có bạn lính E64 hay E 48 nào lên Hà Giang cũng đều là ngày hội, là ngày ôn về Tây Nguyên. Những ngày ấy rượu ngô, thịt trâu nướng và những hồi ức lính lại đưa họ nhớ về một thời Gia Lai đường 7, về quá khứ huy hoàng đã lùi xa sau dãy núi dựng như thành lũy kia.
Xe tôi đang leo dốc Pắc Xum thì ồi ồi điện thoại. Hết đứa này đứa khác hỏi đến đâu rồi? Đợi đấy! chụp ảnh Cổng Trời đã rồi mới xuống đèo. Chúng nó cười he he. Đứng trên Cổng Trời đừng có đái vào mái nhà thằng Chu Minh Yên nhé. Ha ha ! À phải rồi nhà thằng Yên dựa lưng ngay vào vách đá Cổng Trời. Khách dừng lại chụp ảnh núi đôi là bao giờ cũng tranh thủ ghé vào bụi hoa mua tồ một cái cho khoan khoái. Tôi chợt nhớ ra thằng Chu Minh Yên lính D9 bị thương trên đường Lê Văn Duyệt sáng 30/4/75. Cái thằng thật thà hóm hỉnh đến nỗi ai cũng ngại cái thật thà của nó. Cách nay vài năm thằng Thành và thằng Tự Tuyên Quang tìm đến nhà nó. Sau vài chục năm xa cách mới gặp nhau, hai thằng hỏi mày có nhận ra chúng tao không? Nó nhìn hai thằng Tuyên Quang rồi bảo, nhận ra chứ, hai thằng mày ăn cắp bút máy Kim Tinh của tao hồi huấn luyện ở Phú Bình chứ gì. Thế là cả lũ cười phơ lớ. Vợ thằng Yên cũng cười. Tối ấy chúng nó uống rượu ngay vách núi cổng trời đến nỗi thằng Thành Ích ở Sài Gòn ra và cả vợ thằng Yên cứ ôm cột nhà sàn không đứng dậy nổi.
Xe xuống đèo. Thị trấn Tam Sơn đẹp như thiếu nữ mới ngủ dậy. Đẹp nhưng trễ nải, cẩu thả phô bầy nhưng e lệ. Thằng Ngọc Đình Việt đẹp trai ngồi hút thuốc trước cửa nhà. Thằng này với nó mọi chuyện chưa bao giờ có gì nghiêm trọng. Ngay cả khi ở chiến trường nó cũng vậy, đừng sợ bom đạn, đừng thấy nguy hiểm mà tháo chạy. Ngày xưa nó đã nói thế ,bây giờ nó ung dung hút thuốc ven đường đợi chúng tôi. Nó dắt chúng tôi lên gác nhà nó, đi qua những đồ đoàn chợ búa của vợ nó vừa leo cầu thang vừa giới thiệu, đấy là rượu đấy, là nước ngọt và đồ hàng quần áo …những thứ linh tinh này nuôi sống tao và cả nhà đấy. Lương hưu hiệu trưởng của tao đủ tiền uống rượu thôi.
Vương quốc riêng của lính ở trên tầng ba. Không giường chỉ có một bộ bàn ghế và 2 cái đệm dựng ép vào tường. Thằng Vừ Khuấy Sẩn đã ngồi ở đó từ bao giờ. Thằng họ Vừ lao đến nắm tay và nhìn vào mặt tôi. Mày có mệt không? Tao lên đến nhà chúng mày là hết mệt. Vừ khuấy Sẩn cười, có phải đi bộ đ. đâu mà mệt. Sẩn bỏ cái mũ nồi ra trông trẻ ra mấy tuổi. Rồi nó nói, thằng Yên bận chưa đến được, lát nữa sang nhà nó chửi nó một trận. Cả lũ cười ha ha khoanh chân xuống chiếu uống rượu.
Trong bữa ăn bao nhiêu là kí ức ùa về, bao nhiêu chuyện vui chuyện buồn và cả nỗi nhọc nhằn sau cuộc chiến rỉ rả theo hương ngọt nồng rượu ngô cao nguyên đá cũng được giãi bầy với nhau.
Sẩn bảo:
- Tao là dân tộc Ngái, dân tộc tao chỉ còn một ngàn người ở Việt nam thôi. Hiếm đấy! Tao học trung học dân tộc nội trú rồi bỏ về đi bộ đội. Ra quân tao đi học sư phạm về dạy học trên biên ải Nghĩa Thuận rồi lại phải di dời về Tuyên Quang trong những ngày chống Tàu. Tao biết là nhà nước lo sợ dân biên giới có quan hệ với Tàu. Tao vẫn sinh hoạt đảng dù biết họ cũng nghi ngờ.
Sẩn buồn buồn xoay xoay chén rượu. Tôi nhìn Sẩn nhớ ngày xưa ở Gia Lai nó từng 2 năm liền chiến sĩ thi đua, ngày xưa nó vào Đảng rất sớm khi vừa về đơn vị tham gia chiến đấu. Nó bảo con nó bây giờ trưởng thành hết rồi, chả lo gì chỉ nhớ đồng đội và nhớ những cô bạn cũ nay cũng đã rất già ở đâu đó dưới Tuyên Quang hay tận bên Bắc Thái.
Bữa ăn chỉ chừng hai tiếng mà bao nhiêu câu chuyện bao nhiêu khuôn mặt đồng đội hiện về. Chúng nó kể những thằng c25 , c24, c17 c15 và cả những cái tên nổi danh một thời dưới các tiểu đoàn bộ binh. Thằng Việt gọi điện cho anh Lương Văn Khoa tiểu đoàn trưởng D8 ở trong Đà Lạt, rồi lại gọi điện cho thằng Thành ở Sài Gòn cứ như hôm nay là ngày hội quân ở Cổng Trời vậy. Ngày xưa khi chiến đấu tôi ở trinh sát có nguy hiểm thật, có chứng kiến đồng đội hi sinh, nhưng có lẽ chứng kiến lính ta hi sinh nhiều nhất phải là bọn C25 vận tải. Trong câu chuyện của chúng nó, tôi thấy hiện lên bao cái chết xót sa đau đớn của đồng đội mình. Hơn ai hết lũ bạn tôi ở Hà Giang, Tuyên Quang làm lính vận tải nhìn thấy mặt thật của cuộc chiến là Hi Sinh là MÁU của đồng đội mình. Những đồng đội ngồi trước mặt tôi đây đã hàng chục lần chôn đồng đội, hàng chục lần vuốt mắt những người lính bị thương không kịp cứu chữa trong rừng sâu Tây Nguyên. Họ bình thản trầm ngâm bên chén rượu ngày gặp mặt nhưng đằng sau khuôn mặt kia là đau đớn day dứt một đời.
Chiều hôm ấy mưa lay phay, chúng tôi kéo sang nhà thằng Chu Minh Yên ở bản Nà Khoang thị trấn Tam Sơn. Ngửa mặt nhìn lên là vách đá Cổng Trời, xoay lưng nhìn ra cánh đồng là núi đôi nổi tiếng. Tôi bảo nhà mày ở ngay một danh thắng ai cũng ngưỡng mộ là cái cặp vú thiên nhiên kia, sướng thật. Yên cười, mày ra tận nơi mà xem vú đôi, toàn một thứ cỏ lau và đá đéo trồng được cây gì, nên nó cứ xanh lại vàng như thế. Ha ha cười gọi vợ ra rót rượu. Vợ nó người đàn bà khỏe khoắn, bê ra một rổ lạc luộc rồi mời 5 thằng tôi mỗi người một chén rượu. Chúng tôi mỗi người một chén còn vợ nó thì 5 chén. Vợ nó cười phơ phơ, các con em đều làm giáo viên cả rồi. Anh Yên có tiền thương binh lại cả da cam nữa cũng đỡ rồi. Thằng Tự quay sang Yên:
- Mày bị mất hột sao mà đẻ được?
- Tao mất có một hột thôi, giống như gà thiến sót ấy, dà khỏe lắm lố. Vợ Yên cười phá lên:
- Ấy dà khỏe lớ khỏe lớ ! Cả lũ cười vang nhà.
Thằng Tự nãy giờ mới thở phào, may quá nó không nhắc lại chuyện ăn cắp bút Kim Tinh của nó 42 năm về trước. Nhìn Yên hiền thế, vậy mà chiến đấu dũng cảm thế. Hai lần bị thương. Lần đầu ở Chư Groong Ràng, lần sau là 30/4 ở Sài Gòn. Nó bảo, tao là người đặc biệt đấy nhé! Là người bị thương cuối cùng của E64 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Lại là người bị thương mất nửa của quí mà vẫn đẻ rầm rầm. He he
Gió hun hút lùa qua Cổng Trời, hàng Sa Mộc ngoài vườn nhà Yên kêu vi vu. Yên bảo :
- Tao nhớ trung đoàn lắm, nhớ ông Khản chính trị viên D9, nhớ anh Thuần, nhớ Đàm Việt Hùng, nhớ Sèn Vạn Vần, nhớ bao nhiêu thằng chết trận cuối ở Cầu Bông chứ. Giá tao không bị thương thì còn biết Sài Gòn như chúng mày. Đằng này bị thương vào viện Cộng Hòa, ôm bộ hạ mấy tháng rồi ra Bắc, chả biết đến bàn tay con gái Sài Gòn nóng hay lạnh nữa. Nó cười, mắt đăm đắm nhìn ra trước nhà, nơi cặp núi đôi căng căng cong như cặp vú người đàn bà đang nung sữa.
Đêm ấy, chúng tôi tụ tập đủ hết những thằng lính Quản Bạ ở Công an huyện để liên hoan và hát Karaoke. Chúng tôi tựa vào nhau, nắm chặt lấy tay nhau mà hát, mà soi vào mắt nhau, mà cười. Hát bao nhiêu bài, bao nhiêu cung bậc cảm xúc. Nhưng cuối cùng thì mấy thằng lính Đồng Bằng ở bên kia Cổng Trời với mấy thằng lính dưới xuôi nắm chặt tay nhau mà hát. Lời bài hát thế này …” ta vượt trên triền núi cao Trường Sơn, đá mòn mà đội gót không mòn…”
Quản Bạ đêm 28/10/2014
NTL
- Xuống hết Cổng trời vào thị trấn Tam sơn
- Vợ chồng Chu Minh Yên và những thằng lính Mèo, Quản Bạ




Tuesday, November 3, 2015

TRUNG DU XANH


( Tặng quê tôi)

Ở nơi em xanh
Để nắng cũng thành vàng vọt
Em tóc xanh quên lá bưởi lá chanh
Con đường rộng ra cho gió tênh tênh

Gió xanh từ đêm
Tạt qua cơn mê em thức giấc
Miền xanh thao thức
Có tiếng còi tàu xuôi dọc triền đê

Hoang hoải ngày xưa hoang hoải bây giờ
Lưng còng mẹ cõng đồng xanh hun hút
Con mương văn vắt
Nắng xanh nhấp nhánh đuôi cá cờ
Cuối vườn tiếng gà em hong tóc
Màu xanh nằm ủ trong thơ

Ở nơi em xanh nào đợi nào chờ
Anh đã tít về xa trong trống không mùa trăng vỡ
Trung du xanh thế
Mưa chỉ làm buồn chưa kịp thấm mềm rừng cọ xưa
Cơn mưa xanh gầy lúc cuối thu.


3/11/2015

Monday, November 2, 2015

Có những điều kì diệu mà thế hệ sau khó hiểu


Ngày 7/11 /15 tức thứ 7 tuần này BLL CCB Sư đoàn 320 chúng tôi sẽ lên Lâm Thao, Phú Thọ. Đây là chuyến đi dự lễ Vinh danh AHLLVT cho liệt sĩ Nguyễn Như Trang, thuộc trung đoàn 52 của Sư đoàn. Vinh dự cho chúng tôi, những người trong BLL tham gia viết bản đề nghị thành tích chiến đấu của ông để gửi Sư đoàn 320 và QD3 làm tài liệu đề nghị nhà nước phong tặng danh hiệu anh hùng LLVT . Ngày 21/10/2014 Chủ tịch nước đã kí truy tặng danh hiệu AHLLVT cho ông. Đó cũng là một niềm vui khôn tả không chỉ của gia đình mà của tất cả chúng tôi những người lính Sư đoàn 320. 

Nhưng, điều thật bất ngờ cho chúng tôi khi viết về ông như sau:
Khi đi học phổ thông, khi tìm hiểu về bài thơ Tây Tiến chúng tôi được nghe tới bài “Tiếng cồng quân y”. Tiếng cồng ai oán đau thương báo tin có liệt sĩ. Có điều bài hát tiếng cồng quân y là do ai viết thì chúng tôi không hề biết. 
Điều ngạc nhiên thứ nữa là tôi vẫn nghĩ rằng Tổ khúc Tiếng hát Biên Thuỳ của Tô Hải là bài ca đầu tiên về các chiến sĩ Biên Phòng Việt Nam. Nhưng khi tìm hiểu về liệt sĩ Nguyễn Như Trang để viết về ông thì hoá ra trước khi Hợp xướng Tiếng Hát người chiến sĩ Biên Thuỳ ra đời 11 năm ( 1959) thì bài hát Trấn Biên Cương của Nguyễn Như Trang đã vang lên trong trung đoàn 52 Tây Tiến cùng với bài “Hành khúc đoàn quân miền tây”.
Điều ngạc nhiên nữa là trường hợp hi sinh của ông. Tháng 12/1947, ông Nguyễn Như Trang được bổ nhiệm là tiểu đoàn phó tiểu đoàn 150, trung đoàn 52 Tây Tiến. Tháng 11/1948, tiểu đoàn phó Nguyễn Như Trang cùng một bộ phận trinh sát của tiểu đoàn đi trinh sát thực địa, để xây dựng kế hoạch tác chiến của đơn vị tại làng Mu, thôn Ngọc Lâu, châu Lạc Sơn (nay là xã Tự Do - huyện Lạc Sơn - tỉnh Hòa Bình). Do bị bọn Mường gian mật báo, đơn vị trính sát của ông bị một đại đội địch trong đó có một trung đội lính Âu - Phi bao vây tấn công. Cuộc chiến không cân sức, địch đóng đông quân gấp 10 lần. Nhưng cán bộ và bộ phận trinh sát vẫn bình tĩnh, tổ chức chiến đấu ngoan cường. Tiểu đoàn phó Nguyễn Như Trang và người đại đội trưởng đơn vị trinh sát đã tìm mọi cách thu hút địch về phía mình, để bộ phận trinh sát thoát khỏi vòng vây. Khi đồng chí đại đội trưởng hy sinh, chỉ còn lại một mình, tiểu đoàn phó Nguyễn Như Trang vẫn dũng cảm chiến đấu, tiêu diệt hơn 10 tên lính lê dương. Địch gọi hàng, nhưng ông vẫn quyết tâm chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và đã anh dũng hy sinh vào giữa trưa ngày 19/11/1948, khi tuổi đời vừa mới bước sang tuổi 22. Sau khi ông Nguyễn Như Trang hy sinh, viên trung úy người Pháp chỉ huy trận tập kích này, đã phải thốt lên “Tôi cúi đầu chào thán phục trước cái chết anh hùng của người chiến sỹ quan trẻ tuổi này...” và “chính từ quyết tâm chiến đấu và chấp nhận hy sinh để hoàn thành nhiệm vụ, bảo vệ đồng đội của liệt sỹ Nguyễn Như Trang đã cảm hóa Grand Wath Wath – người lính Âu Phi đã tham gia cuộc tập kích vào làng Mu hôm đó chạy sang hàng ngũ Việt Minh và tham gia chiến đấu cùng bộ đội ta đến ngày chiến dịch Điện Biên toàn thắng”

Người sĩ quan tài hoa đó được sinh ra từ dòng tộc Nguyễn Như, làng Cao Xá, L,âm Thao Phú Thọ. Cha của ông là nhà giáo, mẹ của ông là một nữ sĩ tiếng tăm thời trước cách mạng tháng 8. Ông sinh ngày 27/7/1927 và hi sinh ngày 19/11/1948. 

Hai mươi hai tuổi ông đã là một cán bộ tiểu đoàn can trường, một thanh niên hát hay đàn giỏi, một thanh niên viết nhạc, làm thơ hay. 
Nguyễn Như Trang một con người kì diệu của một thế hệ kì diệu

Xin mời các bạn nghe bài hát TRẤN BIÊN CƯƠNG theo đường link dưới đây 


2/11/2015




Sunday, November 1, 2015

Con về quê chẳng thấy Mẹ đâu

Con về quê chẳng thấy Mẹ đâu
Căn nhà vắng , mẹ đi rồi lạnh lẽo
Sương cứ rưng ngoài vườn đêm trăng sáng
Con hiểu nơi này con đã mồ côi

31/10/2015



Lời hoa Mướp

Họ  với nhau cùng nên nhớ lắm
Phận mỏng cũng là phận hoa tươi
Cũng để bướm ong say với nắng
Các chị Bí Bầu em mướp thôi


Sao người chỉ thương thân bầu bí
Người ghét chi em lúc hoa vàng
Người đời miệng độc “Rồ Hoa Mướp”
Yêu tội tình chi hở nhân gian?

Em thấy mùa hoa em đẹp lắm
Cũng là mùa của những khát khao
Em thấy hoa vàng em rạo rực
Người khát người có xấu gì đâu?

Xin chớ gọi ai “Rồ Hoa Mướp”
Mùa phấn làm hương dấm dứt tình
Trái cấm qua màu xanh rồi đỏ
Chín vào thân gái mắt môi xinh

Em thương thân gái ngày xưa lắm
Thương màu vàng em được sinh ra
Có bao người đẹp đi qua ngõ
Yêu đến cuối mùa hoa xót xa.

1/11/2015