Monday, July 4, 2016

LỜI CỦA NHỮNG LIỆT SĨ TRƯỜNG SƠN VỚI 9 ĐỒNG ĐỘI ĐƯA TIỄN SÁNG NAY


Thôi chả nhắc lại làm gì 
Chả có cái chết nào gọi là chết sung chết sướng
Chúng mình là người lính
Thì mình chết cho dân
Nếu ngày xưa cũng chít khăn tang
Thì khăn trắng suối trường sơn nào dài theo nổi
Nếu ngày ấy mà nước mắt 
Thì nước mắt thành sông

Hãy đừng bao giờ cái gì cũng Nếu
Bởi chúng ta là lính mà các em
Các anh nằm ở Trường sơn ở Quảng Trị Khe Sanh 
Ở suối ở sông ở biển
Mịt mù mây gió biên cương
về với bọn anh nối hàng giăng giậu phên chắn yên bờ cõi
Chúng mình cần chi đâu bia đá với tượng đài

Bọn anh nằm đây đã mấy chục năm rồi
Nước mắt người thân rơi trên giấy tờ đều khô cạn
Vợ cũng đi lấy chồng, mẹ cha theo tiên tổ
Mỗi năm hương khói chỉ một lần
Chúng mình chết vì dân 
Thì đừng cỗ to cỗ nhỏ
Chả có ai hơn ai 
Trong chập chùng bia mồ liệt sĩ
Chỉ còn nước mắt đồng bào thôi

Khôn thiêng thì phù hộ cho vợ cho con
Bởi mẹ cha vợ con chúng ta mới là người đau khổ
Rồi ngày các em ra đi 
Ngày tiễn đưa các em mưa đổ 
Thời gian cũng quên thôi

Chỉ có mẹ cha vợ con mình thì đau thương mãi 
Trong nước mắt đồng bào.


30/6/2016

Về giỗ Minh

Trưa nay vợ chồng tao về Ha Long
Thắp nhang cho mày Minh ơi.
Khôn thiêng Minh về chứng giám
Đồng đội yêu nhau sâu thẳm
Biển trưa xanh nắng nghẹn long

Tìm trên lối cũ hoa rừng
Có con chuồn chuồn đứng bóng
Hạ long Biển như thay sóng
Còn mày vỗ động ngoài khơi
Nước mắt sao bỗng như tưới
Mồ hôi trưa mặn thế à
Chẳng khóc lòng tao cũng nấc
Điểm danh tiểu đội đấy ư?

Đừng khóc. Đừng làm Minh buồn
Chén rượu chan vào nước mắt
Chúng tao uống ngày trận mạc 
Uống tiếng cười đêm Trường Sơn.


Trưa Hạ Long 28.6.16

Sunday, June 26, 2016

Miền nắng


Người bay về miền nhiều nắng
Ở đây nắng cũng vô cùng
Ở đây chiều buồn cũng vắng
Bập bùng mây trắng nhớ nhung

Chuyến bay dập dừng lùi lại
Để buồn khắc khoải sân ga
Người về nắng vương ngày cũ
Người đi áo nắng chan hòa

Bồng bênh mây bồng bềnh nhớ
Đầm đìa mưa sau nắng vàng
Người mang buồn vào thành phố
Sau mưa nắng ló dịu dàng

Miền xa tóc thơm lên nắng
Người đi má hẹn môi chờ
Người hôn hoa râm vào nắng
Bâng khuâng là mây là thơ

26/6/2016

Thursday, June 23, 2016

NẮNG THÁNG SÁU.


Nắng cũng y hệt như bây giờ. Sân kho bốc mùi rơm nồng sực, và những đống thóc lửng lép sũng nước mưa từ hai hôm trước mùi khăm khẳm. Giữa trưa, thanh thiếu niên đến họp ở nhà kho. Kho HTX rộng mênh mang. Cái gì cũng mênh mang phơi phới. Tháng 6 gặt vẫn chưa xong vì những tràn ruộng sâu nóng rẫy và đầy nước. Nhãn đang chắc quả, mít thì có nhà đã chín bói. Mấy đứa mang cả chùm dâu da đến họp.

Đội sản xuất Tiền Phong của tôi chia tay 2 anh lên đường nhập ngũ. AnhDiệp đang học lớp 9 dưới huyện và anh Định làm bí thư đoàn. 
Anh Định thì mấy năm nay đã là phụ trách thiếu niên. Thiếu niên đi làm cỏ lúa đi hái chè anh đều đi cùng. Tối tối sinh hoạt ở sân kho anh dậy hát, dậy chơi cướp cờ kéo co. Anh có cái thú làm báo tường. Chúng tôi thích lắm. Anh bảo, làm thơ lục bát để ca ngợi cảnh đẹp quê mình, quê mình đẹp thế phải không các em? 
Anh Diệp thì con nhà giàu hơn. Cả làng có vài anh học đến cấp 3 thôi. Anh ít về làng, chúng tôi nhìn anh ngài ngại. Anh nói những cái gì khó hiểu bỏ mẹ.
Liên hoan chia tay các anh chị phụ trách đội thiếu niên, thay mặt đội tặng hai anh hai cuốn sổ tay. Hai anh vỗ tay và nói nhời cám ơn.
Bỗng con cái Thành, con ông thợ máy may chạy lên mếu máo:
- Em tặng anh Định cái khăn bố em may bằng vải Pô pô lin có thêu tên anh đấy ạ. 
Anh Định cảm động, anh Diệp ngỡ ngàng. Nắng ngoài sân kho tháng 6 chói chang và mùi rơm mùi lúa lép nồng thăm thẳm.

Anh Định chết mãi tận đồng bằng Cửu Long vào năm 1970. Hai mươi sáu tuổi anh là tiểu đoàn trưởng đặc công. Người ta kể bọn chi khu Rạch Giá treo thưởng đầu anh 50 ngàn đồng. 
Anh Diệp tuy không phải đi chiến đấu trong nam nhưng cũng lặn lội hết tỉnh này tỉnh nọ liên miên tới tận năm 90 mới về quê. Anh trung tá về quê lương to phết, anh mở quán bán cháo lòng bia chai. Khấm khá và viên mãn.
Một mùa hè chúng tôi về quê họp hội chăn trâu. Không còn sân kho HTX nữa khiến mọi thứ sinh hoạt cộng đồng thường hay ra quán. Chúng tôi lại ra đúng quán anh Diệp trung tá. Anh Diệp chủ quán sốt sắng phục vụ khách hàng người quê là lũ chúng tôi. Trong bữa liên hoan, con cái Thành đầu bạc phơ đứng lên phát biểu.
Nó bảo: Chúng mày có nhớ hôm liên hoan anh Diệp và anh Định ở kho Tiền Phong không? Nhớ ! nhớ chứ! 
Nó sụt sịt, lúc làm lễ truy điệu anh Định cũng ở sân kho năm 1976, họ mang di vật về tao thấy có cuốn sổ của đội thiếu niên bọn mình đã tặng anh. Tao sán vào xem, giở trang đầu thấy anh ấy viết…”các em chăn trâu của anh ơi, anh sẽ chiến đấu để xứng đáng với các em và quê hương”. Thế rồi nó òa khóc, nhiều đứa cũng lau nước mắt. Cả đội thiếu niên Tiền Phong chúng tôi năm ấy đầu đã bạc đều khóc. Trong nhà, anh Diệp trung tá lặng lẽ thẫn thờ. Con cái Thành nói tiếp, họ mang cả cuốn sổ và di vật của anh ấy chôn theo ngôi mộ giả dưới nghĩa trang huyện từ ngày ấy …


Ngoài trời vẫn nắng. Cái nắng quê tôi giống hệt ngày xưa. Tháng 6 nồng nã nắng, nồng nã mùi rơm rạ


24/6/2016

Chuyện kể ở bến phà Bãi Cháy


Ngày ấy chúng tôi vận chuyển thép ra làm TT Thương mại Móng Cái. Đến phà muộn, mấy xe thép đành nằm lại bên Bãi Cháy đợi sáng sớm qua phà. Biển đêm rập rình. Vài cái thuyền chài ghé vào kè. Cái thuyền thì bé và mui thuyền là tấm phên uốn cong gài kín bằng những miếng ni lông nhiều màu. 

Thuyền tối om và nhấp nhổm theo nhịp sóng. Khuya lắm. Sao trên trời soi xuống vịnh lóng lánh. Những con tàu neo ngoài vịnh cũng tắt bớt đèn. Biển không ngủ. Nơi mấy anh em tôi bó gối trên bờ kè sát cái thuyền nghe óc ách nước va vào mạn thuyền. Chú lái xe thép bảo, cái thuyền này nó không ngủ “sếp” ạ. Nó đang “làm việc”. He he! Thằng này giỏi nhỉ, nó làm việc gì? Tôi hỏi . Chú lái xe cười phá lên. …Sếp chỉ đùa em, sếp biết thừa là cái thuyền này nó “ đóng gạch” Mấy thằng cùng cười. Cái thuyền bỗng dưng hết rập rình. Lạ thế, mà sóng vẫn rập rình. Người đàn ông trong thuyền chui ra bật lửa hút thuốc mắt nhìn như sâu vào đêm. Tôi hỏi: anh mấy con? 

- Một, nó bốn tuổi.
- Cũng ở thuyền
- Tất cả dưới thuyền.
- Anh làm ăn khá không?
- Người ta sống được tôi cũng sống được. Đêm nay dạt vào đây mai dạt chỗ khác.
- Có bao giờ anh đi xa không?
- Có chứ ra tận Vân Đồn, Quan Lạn.
Chú lái xe trêu:
- Này ban nãy “ đóng gạch” ghê thế! Thuyền nhấp nha nhấp nhổm
Người đàn ông thuyền chài cười hì. Thì chả biết làm gì hơn nữa.
Đêm mát rượi. Tôi tung cho anh bao thuốc lá. Rồi hỏi:
- Anh lấy vợ trên bờ à?
- Đâu có trên bờ. Vợ tôi cũng đi thuyền ngoài cửa Vạn. Hát đối với nhau rồi thích nhau. 
Tôi ngạc nhiên.
- Hát đối ? Hát giao duyên ? 
- Vâng, chúng tôi vẫn hát, hát cho thân phận thủy cư cho tình người sóng nước thôi…
Đúng lúc ấy người đàn bà chui ra, chị vẫn tóc và ngồi xuống bên chồng. Cái áo cánh như áo yếm phập phành gió. 
- Anh hát tôi nghe được không ? 
Người đàn ông lại cười hì. Người đàn bà cũng hì hì. Rồi họ hát thật. Người đàn ông hát rằng :
“Trên mây sa, dưới hòn Gà Chọi
Anh hát câu này anh gọi nàng ra
Những lời mình hát hôm qua
Hôm nay hát lại, mau ra hát cùng
Hát cho con gái bỏ chồng
Con trai bỏ vợ, nạ dòng bỏ con”

Người đàn bà nép vào chồng. Sao trên trời rập rình. Sóng đêm Hạ Long rập rình. 

Người đàn bà hát:
“Thuyền te mà lấy thuyền đăng
Đẻ ra con mối, thằng măng, cái dìa
Thuyền đăng mà lấy thuyền te/
Đẻ ra con mối, cái dìa, thằng măng”.

Đêm như sáng lên. Tiếng của họ như tiếng sóng , lời của họ như tiếng khua lanh canh mái chèo.
Rồi họ lại hát:
“Thuyền ai có lửa xanh xanh

Có giầu xin miếng hỡi anh lái thuyền”. Đến đấy thì người vợ béo vào vai anh chồng một cái. Hì hì
Người chồng như không để ý đến cái cấu véo của chị, anh hát như mơ màng thế này:
“Thuyền ai có lửa vàng vàng/ Có giầu xin miếng hỡi nàng trong mui”...
Mấy anh em tôi như không có mặt bên họ nữa. Lúc này chỉ có đêm có sóng, biển chỉ có họ với nhau. Thì ra đằng sau những con thuyền nhỏ bé te tua kia là sự sống là văn hóa là tình yêu. Nó thô mộc nó trong trẻo đến lạ thường. Nó không bụi bặm trên con đường mưu sinh, dù con đường mưu sinh nào cũng đầy lừa đảo ô nhiễm nhân gian.


Vài năm sau cây cầu dây văng lừng lững vắt qua eo biển nối Bãi Cháy với Hòn Gai. Mỗi lần đi qua cầu ngó nhìn xuống bến phà cũ, tôi lại nhớ đêm nằm lại chờ phà bên xe chở thép. Lại nhớ vợ chồng nhà thuyền chài và trong tôi lai văng vẳng lời họ hát trao nhau. Tôi lại nhìn ra vịnh Hạ Long và bâng khuâng, một vùng nước đầy bí ẩn mà mình chưa được mon men tới…


23/6/2016

Tuesday, June 21, 2016

Màu nắng

( Tặng em )

Xin tôi được tìm lại mầu nắng cũ
Mầu ngày xưa mồ hôi mẹ khóc ròng
Ngày khoác súng lên đường ngoái nhìn quê bom nổ
Nắng nhọc nhằn lên từ lũy tre xanh


Xin cho nắng lại tươi trên đồng bãi
Con cá cờ đuôi đỏ cả ban trưa
Em tóc bím chơi chuyền mỏng tiếng cười ngõ xóm
Con ve sầu trong túi cũng làm thơ

Màu nắng mùa thi mũ rơm thơm bàn ghế
Nộp bài rồi khắc vội tên em
Thế là nắng lên màu mực tím
Mấy mươi năm nắng cũng vẫn đi tìm

Ai nhớ nữa màu nắng mùa lửa đỏ
Tiếng súng xa như chưa gặp bao giờ
Thế mà nắng cứ ươm vào giấc ngủ
Ta già rồi màu nắng cứ ngu ngơ

Cho xin lại màu mẹ tôi quạt nón
Gốc đa trưa mẹ gánh nắng về nhà
Tôi chưa thấy bao giờ mẹ khóc
Chỉ một lần chia thóc ở sân kho

Mồ hôi mẹ khóc cho bao mùa nắng
Khóc ngày con thi đậu ở trường làng
Mẹ khóc ngày con lên đường đánh giặc
Thương mẹ tôi khóc với nắng mùa màng

Tôi trở lại với bao màu nắng cũ
Màu hoa Quì nắng lầm bụi Ba zan
Màu con sông bạn tôi gọi mẹ
Nắng trên tóc em ngày ấy tựu trường

Tôi vuốt tóc em trong trưa nắng
Hoa râm cả nụ em cười
Sao như thể mẹ tôi cười ngày ấy
Mong cho con hạnh phúc ở trên đời

Xin cho tôi về với màu nắng cũ
Màu chứa chan Hà Nội những ngày này
Tay vuốt tóc em, nắng cũng về thủ thỉ
Em là mùa nắng cũ về tôi

22/6/2016

NÚi BÀI THƠ


Đôi vợ chồng già quay về Hạ Long. Nơi ấy bốn mươi năm trước họ đã đưa nhau tới. Họ đi tìm bãi phi lao có rất nhiều những hòn đá lô nhô như đàn cừu trên đồng cỏ. Không thấy.
Họ lẫm chẫm đi tìm cái kè vách bến phà. Chỗ ấy một tập đoàn liên danh nước ngoài vây kín tôn để thi công cái gì đó. Họ gọi Taxi. Chú taxi hỏi :
- Ông bà đi đâu?
- Cho chúng tôi sang Bến Đoan? Người lái taxi ngơ ngác. Ông già nói luôn: 
- Chú biết dốc Bồ Hòn chứ?
- Vâng , cháu sẽ đưa ông bà đến chân núi Bài Thơ.

Từ lâu lắm rồi đỉnh núi Bài Thơ luôn có một lá cờ đỏ. Tất nhiên núi Bài Thơ không phải là biên cương hay quảng trường. Và ngày nay núi cũng không phải đốt đèn chỉ đường co tàu thuyền xứ Đông bắc nữa. Núi Bài Thơ chỉ là ngọn núi bên bờ vịnh Hạ Long trong xanh cũ kĩ kì bí. Ông bà già lẩm bẩm, lá cờ đỏ người ta đã cắm lên trên đó từ năm 1930 . Gần một thế kỉ nay nó cứ bay lồng lộng hồng hào, soi xuống nước Hạ Long như thế. Chả có ai viết về lá cờ này xem sự tốn kém, người treo cờ, người may cờ hay có người nào… tài trợ gì không? Và nói dại nếu một ngày người Hòn Gai không thấy lá cờ trên đỉnh núi thì ấy là sự đột biến và họ sẽ đau buồn đến thế nào. 
Xưa, làm gì có con đường xe chạy bon bon quanh núi soi hình xuống biển. Chỉ có nhũng cái cầu cheo leo mà dân chài bám vào núi mà sống. Ông bà già đứng trên cầu nhìn vào phía bến tàu cũ bâng khuâng nhớ 40 năm trước tiếng còi tàu thủy tu tu cập bến. Chuyện tình yêu của họ cũng cũ kĩ như bụi than ngày ấy ám vào những con đường phố nhỏ tin hin mang cái tên Dốc Học, Bồ Hòn, Rạp Hát….

Bà già hỏi ông lão lập cập đang húng hắng ho vì gió lạnh bên mình:
Bài thơ gì gì của ông Vua gì gì ấy nhỉ ? 
Ông già vuốt tay lên ngực. Ông nhìn ra vịnh. Ông lẩm nhẩm hai câu cuối bài thơ trên vách đá của Lê Thánh Tông…” Thiên nam vạn cổ sơn hà tại/ chính thị tu văn yển vũ niên” .Bên tai ông là còi xe và rộn rã tiếng cười của trai gái Hạ Long. Trước mắt ông ngàn ngạt những tàu du lịch sặc sỡ. Ông nhớ nao lòng những cánh buồm ngày xưa mỗi sáng sớm hồng hào cả Hạ Long. Ôi những cánh buồm dưới chân núi Bài Thơ. Mỗi cánh buồm là một bài thơ tình bí ẩn mà người đời quên lãng.


21/6/2016