Monday, September 17, 2018

VỢ NGƯỜI ANH HÙNG.


( VIết cho tháng 7 )

Anh và chị học cùng nhau hết cấp 2 thì anh nhập ngũ. Ngày ấy chả cứ quê tôi mà bất kì làng xóm nào trên miền bắc thanh niên học tới lớp 7 mười sáu mười bẩy tuổi là xung phong nhập ngũ vào nam đánh Mĩ. Họ chia tay nhau ở bụi tre ngay đầu bến đò. Tôi nghe kể, lần đầu tiên người quê tôi nhìn thấy trai gái hôn nhau chính là anh chị . 
Cái bụi tre bến đò ấy vào năm 1968 vỡ đê có đến tám người làng chết đuối. Nước sông Hồng quét sốc vào tận làng trong. Nửa tháng sau nước rút, cả cánh đồng làng tôi toàn một thứ cát càng khô phênh phếch. Chị ấy đứng ở chỗ vỡ đê khóc một mình. Chị khóc cho ngày chia li mối tình anh chị và lại cũng khóc những oan hồn của thiên tai. Chị tiếc lắm cái bụi tren nơi hai anh chị ôm nhau trước ngày anh đi bộ đội.
Nhưng lúc ấy họ chưa biết chị là gái góa. Anh nhập ngũ năm 1965 thì kì nghỉ phép đầu năm 66 anh về cưới chị . Cưới xong mươi ngày là đi. Anh nói anh lái xe vào Trường Sơn. Hồi ấy làng tôi chỉ có anh là người biết bẻ máy ô tô . Anh kể chuyện, lũ trẻ con chúng tôi sướng nhất là tiếng bim bim và dáng nghiêng người cua xe vòng quanh đồi. Nhìn anh kể chuyện chị nuốt nước bọt và mắt chị long lanh. Chị làm vợ có mươi ngày rồi là thành gái góa.
Anh vào Trường Sơn một hai năm thì thành Anh hùng. Chị bảo chị không biết cái ông Anh Hùng già hay trẻ. Đảng ủy quán triệt mãi chị mới hiểu. À thì ra Anh Hùng cũng giống như Chiến sĩ Diệt Dốt hồi năm 1959 mà bố chị được tặng cái giấy chứng nhận treo trên vách liếp mốc meo đến tận giờ. Oai lắm đấy. Hàng ngàn người mới có một người Anh Hùng. Chị sướng như được mùa. Nhưng khốn thay khi chị nhận giấy báo tử thì mới biêt chồng mình là anh hùng. Chị đeo tang trắng và súng k44 ra đồng sản xuất cùng thanh niên làng hết hai năm thì bỏ khăn. Sau lúc héo hon chị dần trở lại mỡ màng. Mới 24 tuổi đã làm gái góa. Vợ góa liệt sĩ người ta nể bao nhiêu thì lại sét nét bấy nhiêu. Khổ lắm. cái gương con cũng chỉ dám soi ở trong buồng. Má mà ửng đỏ ở chỗ đông người thì thật là khốn nạn. Lại có tiếng phỉ pheo, đấy chồng chết chửa đoạn tang đã nứng. Chị khóc nghẹn họng, chị cắn răng hàng đêm.

Truy điệu chồng chị to lắm. Có cả Huyện ủy về. Cả làng đau xót. Cả làng mừng. Từ bao lâu đến giờ làng tôi mới có sự kiện một người là Anh Hùng LLVT. Ông Bí thư Đảng ủy phát biểu cảm động như chính nhà ông ấy có người Anh Hùng. Chị chả nhớ được gì suốt ngày vật vã bên cái mộ giả úp cái thuyền thúng phủ lá cờ đỏ lên mà gọi anh. Gọị mãi cho đến lúc đêm thì ngủ thiếp đi. 
Anh về. 
Anh đến bên chị. Be bét những đất và máu. Một bàn tay ôm lấy bụng, một bàn tay vuốt má chị. Chị bảo, sao anh không ôm em bằng hai tay. Anh bảo, anh phải bịt tay vào chỗ thủng ở bụng kẻo ruột nó xổ ra. Mảnh bom thằng Mĩ văng trúng bụng anh em ạ. Mẹ cha nó, nó đánh bom suốt ngày đêm, đại đội anh đã mùa chiến dịch vận chuyển Thương nhớ Bác Hồ. Em biết không suốt từ Lùm Bùm đến Phu La Nhíc bọn anh không một ngày ngơi nghỉ….
Chị níu lấy tay anh. Anh lại vuốt má chị. Anh cười, cái bụi tre chúng mình ngay đầu bến đò sang làng Lâm ấy bây giờ vẫn đẹp như xưa hả em. Những đêm TRường Sơn xoay cung tăng chuyến anh chỉ hình dung ra cái bụi tre chúng mình hôn nhau là quên được bom và đạn hai mươi li của kẻ thù. 
Thằng Mĩ thua chúng mình là cái chắc em ạ. Ở Trường sơn anh gặp nhiều cô cũng tuổi em mà dũng cảm lắm nhé. Bom vùi bom cháy cả rừng mà các cô ấy vẫn cười vẫn sống trên mỗi cung đường anh qua. 
Anh nhăn nhó. Ruột anh lại lòi ra rồi em. Giúp anh ấn nó vào đi.
Anh lại cười khe khẽ, tay kia lại đặt lên vai chị. Lần này thì anh khóc. Anh bảo , em ơi trời chưa thương cho mình một đứa con , em còn trẻ em hãy đi lấy chồng và cố đẻ một đứa con. Nếu có con gái hay trai cũng cứ lấy tên làng mình mà đặt tên con. Để anh dễ nhận ra con em cũng là con mình. Tên làng mình em nhé. Làng Đan.
Chị bừng tỉnh. Xung quanh chị đông người quá. Ai cũng đang khóc. Có cả ông Bí thư đeo xà cột thở phào. Chị nghe thấy tiếng ông nói rõ to. May quá, thế là đồng chí ấy tỉnh rồi . May rồi. Không có gì phải quán triệt nữa. 
Ông ấy đi ra khỏi đám đông. Chị lại nhắm mắt, bên tai chị ồn ã có cả tiếng khóc của mẹ đẻ của chị và tiếng trống hộ đê. Năm ấy cũng mưa nhiều lắm.

***
Một năm sau khi chồng chị trở thành anh hùng thì chị được bầu là Bí thư Xã đoàn. Chị lao vào công việc để quên nỗi buồn nhớ anh, nhớ 10 ngày làm vợ. Đêm , chị quằn quại trên cái giường chỉ một thứ mùi đàn bà ngai ngái xanh xao. Đầu giường chị là những lá thư của anh trên Trường Sơn gửi về và những Công văn Nghị quyết triển khai công việc của đoàn thanh niên xã nhà. Những lá thư liệt sĩ lẫn lộn trong bộn bề cuộc sống làng quê những ngày cuối của cuộc kháng chiến như thể nó đan chéo vào nhau mà lại đồng điệu đến giản đơn. 
Cũng ở trên cái giường ngài quạt gỗ xoan tươi mà anh chị ở với nhau mười đêm ấy bao nhiêu ý tưởng phong trào đoàn xã ra đời. Nhưng phong trào đoàn càng đi lên bao nhiêu thì chị lại càng mình thấy mình tội lỗi bấy nhiêu, bởi má chị càng ngày càng đỏ, ngực chị càng ngày càng căng. Có những lúc đang cười nói rộn ràng chợt nhớ mình là vợ anh hùng mà ngưng bặt không dám đùa vui với bạn bè nữa. Cũng có lúc đi đào mương thủy lợi ngồi ăn mía bên bờ mương chợt vùi khúc mía xuống cát chụp cái nón lên đầu. Anh ơi, em giữ là giữ cho anh. Giữ cái anh hùng của anh. Cái vườn nhà mình lâu nay không trâu bò nhà ai dám lại vãng đến mà phá phách nữa. Cỏ vườn um tùm, lối vào nhà mình cũng xanh rì những rêu trơn. Em bỗng thấy hình như họ chỉ nhìn em từ sau bờ rào đầy những dây tơ hồng phủ kín cúc tần. 
Giời ôi, ra là chị cũng lại phải làm anh hùng thay cho chồng. Không những thế chị còn làm anh hùng cho cả nhà chồng cho nhà mình và cho chị. Sao đời chị nặng nề đến thế. Có lúc chị nghĩ dại, giá mà anh không phải là anh hùng có đỡ cho chị không....

Một năm hai năm rồi ba bốn năm năm. Ngôi nhà vợ người anh hùng xanh mướt mát những là rau ngót và lá mơ tam thể. Những đứa bạn chị đi lấy chồng hết cả. Lâu rồi chả thấy đứa nào sang mà hái rau mà vặt lá mơ về thịt chó. Vườn nhà chị sau mỗi trận mưa dẫm xèo bọt mùi tanh tanh. Chị đã hai khóa bí thư xã đoàn. Chị xin nghỉ mà chưa được , chưa có ai thay chị. Có mấy cô phó bí thư nay đi lấy chồng cả. Các đồng chí thấy chị son rỗi đoan trang nên động viên chị làm tiếp. Chị vạch ngực soi gương thấy đầu vú đã thâm thâm. Chị quay trước quay sau đấm đấm vào mông vuốt vuốt lên ngực rồi khóc. Ngôi nhà chị bí thư xã đoàn mùi ngai ngái giống như cái mùi tanh ngái từ vườn đưa vào.
****
Cũng lại một ngày mưa anh ấy đến. Anh tên Long. Chị biết anh vì anh cùng đi bộ đội với chồng chị. Nhưng anh ấy có học hơn nên được đi binh chủng thông tin còn chồng chị đi lái xe. Anh châm nhang thắp lên bát hương bố mẹ chồng chị trước rồi thắp nhang vào bát hương chồng chị. 
Anh khấn : Thiện ơi, tớ về thắp nhang cho cậu đây, tớ cũng ra quân rồi, sống khôn chết thiêng thì phù hộ cho vợ cậu. Cô ấy cũng khổ lắm Thiện ạ.
Lần đầu tiên chị thấy có luồng điện chạy rùng mình từ đầu xuống chân. Chị thấy que hương rung bằn bặt. Lần đầu tiên chị thấy như có người ôm chặt lấy chị, ghì ngực chị, nén cặp vú như hai cái vét si bóng khiến chị tức thở. Anh ấy thẫn thờ nắm tay chị rất nhanh rồi ra về cũng nhanh. Ngoài ngõ có người hàng xóm đứng hái búp cúc tần về đắp chân cho trâu bị cước chân nhòm vào.
Chị không rõ mình ít cười từ bao giờ, cũng không rõ mình nói không to như trước từ bao giờ. Lâu nay chị đã quen hễ mở mồm nói điều gì là nhớ ngay chồng mình là anh hùng. Đến nỗi đi chợ mua sắm cái gì là hôm sau cả làng biết vợ người anh hùng ăn món gì. Nhưng chị nhớ rất rõ mỗi kì giỗ bố mẹ chồng các đồng chí lãnh đạo xã nói gì với chị. Chị cảm động đến cứng người khi các đồng chí khen chị đoan trang xứng đáng người đảng viên vợ một người anh hùng. Bao giờ cũng thế đêm ấy là chị ôm cái gối thêu con chim bay con chim đậu cũ mèm mà khóc.
Tối ấy chị không khóc. Tự dưng chị thắp nhang cho bố mẹ chồng cho chồng mà lại nhớ đến anh Long lúc chiều. Người chị lại thấy có luồng điện nhoi nhói chạy qua. 
Năm sau anh Long hỏi cưới chị. Anh Long lên xã trình bày với Đảng ủy Ủy Ban, rồi xin phép họ hàng bên chồng cũ của chị. Đám cưới diễn ra thật đơn xơ, cũng trà thuốc và mươi mâm cơm hai họ. Nhưng ở làng thấy gường gượng. Các cơ quan đoàn thể như vừa mất đi cái gì mơ hồ nhưng cũng thở phào cởi bỏ một cái gì mơ hồ không kém. 
Ngay sau đám cưới anh chị về ở với nhau trên ngôi nhà của chị vì đất này là của mẹ đẻ chị cho chị khi xưa chị đi lấy chồng. Cũng năm ấy chị thôi công tác . Vợ chồng chị lại làm ruộng và hưởng trợ cấp thượng úy của anh Long. Bao nhiêu nỗi lòng của chị trong căn nhà ngai ngái mùi đàn bà ngày mưa nay biến mất. Chị hạnh phúc ngay trong căn nhà bất hạnh của mình khi tuổi cỡ ba mươi. Chiến tranh vừa mới qua được vài năm, những hân hoan đợi chờ vỡ òa, tiếng cười tiếng nhạc lẫn trong kèn trống của hết đám báo tử này đến báo tử khác. Chị thấy mình vừa đau đớn mà cũng vừa hạnh phúc hơn khối người. 
Một năm hai năm rồi ba bốn năm năm. Chị mơ hồ nhận ra nỗi buồn của chồng mình. Những nỗi niềm khe khắt dòm ngó của người đời ở một vùng nông thôn đối với chị khi trước thế nào thì nay lại chuyển sang chồng chị. Họ để ý xem anh ăn ở với vợ một người anh hùng ra sao. Họ cứ nghĩ rằng anh luôn núp dưới cái bóng tiếng tăm của vợ. Rằng cái thượng úy của anh chả là gì với danh xưng một liệt sĩ anh hùng. Quá lắm thì anh thượng úy về một cục vì sức khỏe yếu mà thôi. 
Gần bốn mươi mà chị vẫn không thấy có chửa. Chị cởi áo nhìn ngực mình thấy vú xẹp dần mà thâm bẳn. Nước mắt chứa chan. Anh đứng sau cũng dàn dụa nước mắt. Anh cho chị biết anh đi khám và biết mình vô sinh vì chất độc da cam từ chiến trường Tây Nguyên mang về. Đêm ấy anh bảo chị, em còn khả năng có thai thì nên đi lấy chồng hoặc thích ai thì cứ ăn nằm với người ta kiếm đứa con. 
Chị khóc nức nở. Chả gì em cũng đã là vợ một sĩ quan, vợ một anh hùng em sao có thể làm như thế. Em có trách nhiệm với anh cũng như trách nhiệm vợ một người anh hùng chứ anh ơi. Cả hai người cùng khóc. Hồi lâu anh bảo, Em khổ quá em ạ. Khổ với anh đã đành em khổ vì cái anh hùng của chồng em nữa, nỗi khổ ấy đeo nhũng nhẵng nhẹ nhàng mà quán nặng một đời em. Anh thương em lắm.
Sau lần ấy chị chủ động cùng anh đến từng nhà các cựu chiến binh trong làng tổ chức hội đồng ngũ, hội chăn trâu, hội cùng đơn vị và lấy nhà mình làm trụ sở sinh hoạt. Anh và chị lại đi tới nhiều xã trong huyện thăm hỏi các bạn bè cuả chồng cũ chồng mới. Vợ người anh hùng lại sống lại như một hồi chị làm bí thư xã đoàn.

***
Đoạn kết
Năm nay nước lại ngập lút đồng. Từ xóm làng chân đồi nhìn ra, nước e e như nồi canh cua lẫn rau rút lều phều. Nước sông Hồng lạnh như kem. Chị lội lõm bõm ra bãi soi. Nghĩa trang nổi cao hơn mặt nước chỉ cỡ một con dao phay thái chuối. Ngôi mộ Anh Hùng chồng chị đỏ chói lói vì vừa qua ngày 27/7 xã nhà cho sơn quét tinh tươm. Tấm ảnh anh đội mũ mềm có ngôi sao cũng mới làm khảm vào đá dưới Hà nội mang về. Người làm tấm bia có ảnh này chính là anh Long chồng chị bây giờ. Anh có tấm ảnh cất kĩ từ hai người hồi huấn luyện cùng nhau. Ngày mang tấm bia gắn ảnh của anh về chỉ mình chị là không biết . Chồng chị xách túi xi măng ra nghĩa trang lúi húi một buổi chiều. Tối ấy anh uống rượu một mình ngoài hè. Trăng lên, anh bảo chị tắt đèn đi để anh ngồi hóng gió một mình. Chị ngồi sau cửa nhìn ra, thấy anh như nhập nhoè in vào vườn chuối lặng phắc như cái chòi bù nhìn canh ngô ngoài bãi soi. Chị thương anh bao nhiêu chị thương mình bấy nhiêu. 
Chị đứng trước ngôi mộ giả của người chồng Anh Hùng bao lâu không nhớ nữa. Nước sông vẫn lên, mưa tạnh rồi mà lũ mạn ngược u ú kéo về , lại nghe nói cái bọn láng giềng nó xả lũ ngọn nguồn. Binh tình này quê mình khéo lại chìm mất bãi soi anh ơi. Anh lại chìm trong nước dơ dáy đến bao giờ hở anh. Có con thẫm giun lội rón rén cắm mỏ tìm mồi ngay lùm chuối cửa nghĩa trang thấy chị nó bay đánh vù, kêu kéc một tiếng. 
Cũng lúc ấy chị nghe trong xóm có tiếng đứa cháu gọi, cô ơi cô về ngay đi, chú Long khó thở quá. Về đưa chú đi viện cô ơi. 
Chị bừng tỉnh. Chị lạnh buốt thái dương. Hình ảnh người anh hùng đội mũ mềm sáng lên. Chị nghe như có tiếng anh trong tiếng ì õm của nước ngập xô trên đồng lúa. Em về đưa anh ấy đi viện đi em, anh ấy cũng khổ lắm, khổ còn hơn anh .

10 giờ 15 phút sáng 23/7/2018

CHUYỆN LÀNG


Bây giờ chả cứ gì mọi người ít tuổi mà ngay cả tôi nghe kể chuyện đánh đấm đùng đoàng cũng thấy nhàn nhạt rồi. Chuyện tình thì đã qua . Chuyện đầu tư kinh doanh thì bại trận, nói đến là sởn da gà. Chuyện chính trị thì có nghe có nói cũng là hóng hớt chém gió. Mấy anh về hưu đi bộ buổi sáng rồi rủ nhau ăn sáng rồi chém Gió chính trị, nuối tiếc oán than. Tôi dị ứng. Thế thì chỉ còn mỗi chuyện hồi nhỏ. Nói chuyện thời nhỏ cho nó trong sáng , he he, thánh thiện. 

Mà nói đến thời thò lò mũi thì phải nói đến làng, đến bạn mũi thò lò . Làng nào mà chả có ối chuyện hay . Có điều kể lại có lọt tai người nghe không mà thôi . Với lại kể với ai ? 
Thôi thì kể chuyện hồi nhỏ là phải kể với người nhiều tuổi . Đừng kể với lũ trẻ con mà dại .

1 Xóm Giữa làng .
Con đường tàu hỏa Hanoi - Laokay sẻ vào giữa làng tôi thành một đường kính. Ỏ tâm đường kính là giữa làng . Giữa làng thì đương nhiên có sự khác biệt ria làng rồi. Hàng bán nước mắm cá khô ở đó . Hàng Lò rèn , hàng nhuộm , hàng cúp tóc cũng ở đó và có một cái điếm để các nhà chức trách tuần phòng trị an . Tôi thích lám ó một anh thuong binh mở quán Chữa đèn pin. CHao ôi, ngày đó cái đèn pin là cả một khoản tài sản. Toi nhớ cho đến năm tôi học cấp 3 tôi vẫn ao ước một cái đèn pin mà chưa có.
Tựa vào quả đồi có trường tiểu học là một cây đa và bãi cỏ rõ thật mịn làm nơi mít tinh . Tôi nhớ xa xưa lắm có một cái sân khấu cột gỗ mái lá để diễn tuồng diễn chèo , là nơi thanh niên tập múa son mì ngày 2/9 , ngày trung thu . Thời ấy mới hòa bình vài năm . Những người tản cư từ dưới xuôi lên chưa mấy ai về , làng tôi còn đông vui lắm . Ông thợ giày cặm cụi ngồi ở gốc vông sửa những đôi giầy Giôn những đôi Bát kết . Ông thợ bạc có cái đèn xì ngọn lửa bé xíu xanh lè chuyên kéo những cái vòng trẻ con . Khoái nhất là ông kẹo kéo . Chúng tôi túm đen túm đỏ quanh ông nuốt nước bọt nghe ông rao : ké…éo đê ê ..ê . Hồi ấy chúng tôi mặc quần lá tọa . Cái quần lẽ ra phải luồn dải rút nhưng dải rút thì tút ra làm dây chơi quay còn thì lấy dây bẹ chuối buộc ngang quần kéo cạp lên thả xuống . Có những hôm mải chơi đứt đánh phựt dây quần tụt xuống mà vẫn mải mê quay với đáo . Thằng Vân bạn thân nhất của tôi bố nó đi Điện Biên Phủ về có dây dù làm dải rút quần trông nể quá . Thỉnh thoảng mượn nó một hôm . Hôm nào mượn được, mình cố tình để thò cái nút dây dù dài xuống . Oai phết . Một bữa đang ăn cơm tối, nó gọi ngoài ngõ trả dải rút cho tao đê…ê . Tức ói máu vội lao ra vườn tước cái bẹ chuối treo cái cạp quần hôi mù vào bụng rồi ném trả nó đoạn dây dù. Tức cả đêm .
Cái xóm giữa làng này được gọi là xóm Làng. Đứng đầu là ông trưởng xóm. Nay hòa bình rồi trưởng xóm thường là có chân chi bộ. Ông nội tôi không trong chi bộ nên thôi chức. Ông buồn. Bà nội thì bảo may quá, cứ làm trưởng xóm chỉ tổ đun nước họp với hành. Bờ rào nứa cũng tan hoang. Chả là mỗi đêm họp xóm ra về bà con dỡ rào vườn nhà tôi đốt làm đuốc đi về.

Tổ “đổi công” ra đời vui thế . Bao nhiêu chuyện vui buồn trong nhà nay mang cả ra tổ đổi công mà chia sẻ. Con người mới đi lên phới phới. Hồi ấy chả cứ gì quê tôi , đâu đâu cũng văn nghệ, đâu đâu cũng làm sạch làng tốt ruộng, diệt muỗi diệt chuột ăn chín uống sôi. Lũ trẻ nhỏ chúng tôi cứ mỗi tuần vào chiều thứ 6 đi cổ động . Đi Cổ động là xếp hàng đội ngũ chỉnh tề. Trống Cà rình đi trước, người chỉ huy cầm cái loa bằng ống sắt tây giống như cái nơm úp cá ngủ mà hô to những câu khẩu hiệu. Tôi nhớ lắm và thích thú lắm những câu hô khẩu hiệu của anh Thêm Quỳnh kém mắt. Trong xóm tôi anh Quỳnh tuy kém mắt nhưng tốt tinhslaij năng nổ công tác nên ai ai cũng yêu quí. Anh cầm cái a lô ( hồi ấy chúng tôi gọi thế ) giọng sang sảng :
- Tích cực diệt muỗi diệt chuột là thiết thực bảo vệ cuộc sống của nhân dân ! 
Cả đoàn hơn trăm đứa trẻ hô to : Tích cực! tích cực! Anh Thêm Quỳnh lại hô: 
- Toàn dân Thi đua làm sạch xóm làng ! Chúng tôi lại hô theo : Thi đua thi đua ! Kết thúc bao giờ cũng phải có câu kết :
- Hồ Chủ tịch muôn năm . Muôn năm muôn năm 
Rồi là trống cà rình gõ dồn dập. Cứ thế đoàn cổ động đi quanh co hết xóm trong xóm ngoài . Vui đáo để . Chúng tôi đi cổ động nhìn lũ trẻ cởi truồng chưa đến tuổi được đi cổ động cũng vênh váo ra trò . Anh Thêm Quỳnh ngày ấy là thần tượng của tôi rồi. Cứ nhớ lại cái a lô bằng sắt tây là nhớ đến một thời xóm giữa làng của tôi thật hoành tráng. Cứ nhớ đến ngôi đình làng học vỡ lòng vói những cái cột lim to hai người ôm trên đó có những chữ cái A, O Ô, U, T, H....viết bằng vôi to như cái thùng gánh nước từ hồi bình dân học vụ hồi phong trào diệt dốt

Ở xóm Làng , hồi ấy tôi nể nhất thằng Cư . Nó hơn hai tuổi nhưng học cùng lớp tôi . Nhà nó ở dưới Nam định lên từ hồi 45 . Bố nó làm kiểm lâm trên laokay . Cái gì nó cũng biết cái gì ở làng nó bảo cũng là bình thường . Nhà nó ở sát luôn đường tàu hỏa . Mỗi tối nó nhặt đá đường tàu về xếp ô vườn hoa nhà nó . Nó trồng toàn hoa mười giờ . Nó bảo tôi khi nào hoa nhà tao nở tao ới sang nhà mày cho bầm mày nấu cơm . Tôi kể lại với mẹ . Mẹ cười buồn , giờ ấy bầm còn ở ngoài đồng con ạ . Hồi ấy ngày có vài chuyến tàu thôi nhưng rất đúng giờ . Vài năm mới đổi giờ tàu một lần . Đổi giờ tàu là cả một sự thay đổi lớn đối với xóm giữa làng . Sáng , chin giờ là tàu Hà nội lên ngược . Chiều, 2 giờ rưỡi là tàu xuôi . Đêm : 9 giờ tối tàu ngược rồi 2 rưỡi sáng lại có chuyến xuôi . Cứ thế năm này qua năm khác tàu qua nhà là biết mấy giờ . Chỉ đến khi chiến tranh phá hoại của Mỹ nổ ra những chuyến tàu xuôi ngược mới thất thường . Bao nhiêu năm tiếng còi tàu mặc định vào giấc ngủ trẻ con của tôi . Nhà cách đường tàu dăm chục mét tiếng chạy xập xuỳnh của tàu hỏa cứ như ru ngủ vậy . Lúc mới biết đọc chữ hàng ngày cứ đánh vần những chữ viết trên các tấm biển gỗ chôn cạnh đường tàu . ở ngay cửa nhà tôi có cái biển sơn trắng chữ đen không có dấu khiến dòng chữ trên đó thuộc từ bé mà mãi tới lớn mới hiểu . Cái dòng chữ thế này : DUONG VONG:…/ BANKINH :…/ TOCDO: …/ GIOIHAN:…Hóa ra là họ ghi bán kính cong , tốc độ chạy và giới hạn tốc độ . Rồi , cái toa tàu bố tôi bảo là Voa gông . Sao lại là voa gông ? ông trưởng ga ở ga nhà tôi họ gọi là Xếp . Chịu chả biết Xếp là gì những cũng gọi ông Viện làm trưởng ga là ông Xếp Viện . Những kỉ niệm con con ấy rũ mãi không ra khỏi trí nhớ .
2
NgưỜI ta bảo : một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp. Cái hàng phở , hàng bánh cuốn giữa xóm nhà tôi là nơi kiểm chứng và ghi danh những cá nhân có máu mặt ở làng. Thời bé tôi biết mấy thầy giáo cấp 1, mấy ông buôn nâu mây và mấy anh công khu mới vào hàng phở ( Công khu là thợ chèn đá đường tàu hỏa ) . Trông nể lắm. Khoan thai tự tin thả đít xuống cái ghế băng đen nhẻm ám mùi khói. Con gà luộc sẵn treo chổng ngược cạnh bó hành củ tươi, trắng xanh như đon mạ . Nước rùng trong veo thơm sang tận tràn ruộng giáp đường tàu. Anh Nghi Vừng dậy lớp vỡ lòng chúng tôi ngồi hàng phở thách đố với mấy ông Công Khu ăn hết một con gà và cả bộ gan gà. Thế là anh giáo Nghi mang cái tên Nghi Gan gà. Anh giáo nhập ngũ năm 1961 rồi phục viên năm 63. Được hai năm lại nhập ngũ vào B4 đánh A Sầu dính bom na pan cháy hết mặt mũi, cháy mất cả một bên tai về làng chả ai nhận ra. Chỉ khi nói tôi là Nghi VỪng xóm cầu tây đây thì người làng à lên : Anh Nghi gan gà, gan gà. Anh giáo Nghi cười. Như một người hành tinh khác đến thăm làng . NHững năm 1958 tôi học vỡ lòng anh giáo Tấn. Nhưng hôm nào anh giáo Tấn bận việc là anh giáo Nghi lại dậy thay. Đã nửa thế kỉ nay rồi tôi vẫn nhớ nét chữ thầy giáo Tấn thầy giáo Nghi đẹp lắm, và nhớ cả thầy Nghi dũng sĩ diệt Mĩ , thầy Tấn là đại đội truỏng đã hi sinh tít hút trong Bình Phuoc vào năm 1970.
Làng nào cũng có khúc đồng dao riêng của nó. Đồng dao cho trẻ con và cho cả người lớn. Chả cần lên gân lên cốt về quê hương giống như anh nhạc sĩ úp mặt vào sông. CỨ hát khúc đồng giao lên là thấy quê hương hiện ra mồn một .Đồng dao quê tôi nhẹ tưng tửng và thắm thiết. Đồng dao nào cũng là của chung cho các thằng người trong cái vùng quê ấy cả. Ấy thế mà trong vô khối những đồng dao đã thuộc lại cứ nhớ đau nhớ đớn cái khúc Đội gạo lên chùa
…khoan khoan tay chú
đổ thúng gạo tôi
Hôm nay ba mươi 
Mai là mùng một
đội gạo lên chùa cúng bụt 
Bụt ngoảnh mặt đi
Ông Thích ca mỉm miệng cười khì
của tam bảo để làm gì chả bóp.
Đến thế thì thôi! Bụt rồi Thích ca không mắng thằng tiểu nó dám bóp vú gái làng lại còn hùa vào còn làm ngơ. Lớn lên mới hiểu ra là ở trên cao cũng nhiều sự thối nát như dưới dân sinh. THậm chí càng trên cao càng thối nát bẩn thỉu hơn dưới làng quê của tôi.
Làng tôi có xóm Dậm. Xóm ấy ở ria đầm Hà. Họ ở trên đồi cọ cổ thụ soi mình xuống đầm nước mênh mông. Hồi bé ngồi nhìn những cây cọ cao vài chục mét in bong xuống đầm nước. Những cây cọ lộn ngược cao như thế mặt nước nông choèn choèn mà ngọn cây cọ không xuống đến đáy. Cây càng cao soi xuống nước thì lại càng thấy nước sâu thêm. Đi vào xóm ấy phải qua một cái đập bằng đất ruộng vật lên gọi là bờ đắp . Ngàn ngạt những bụi tre và nương cọ. Tre cũng rậm mà cọ thì cao. Một xóm nhà toàn những cái tên nổi đình đám lãng tử quê tôi. THời tôi trẻ con tôi đã biết xóm Dậm nhiều chị đẹp gái lắm. Trai làng nhòm ngó gái xóm Dậm mà chả lấy được đâm ra tức mà làm thơ viết ở đình làng . 
…Nhà ông Vang có bụi tre to 
Có cô Năng lớn chẳng cho lấy chồng 
Ai ai đến hỏi cũng không 
Có anh Ngoạn đến là bằng lòng ngay ..
Đến giờ tôi cũng không thấy họ về làng, chả biết anh Giáo Ngoạn đưa chị Năng đi phương trời nào.

NGày xua cái sụ lấy chồng vọ cũng không nhiễu khê như bây giờ. Quê nghèo, nên con gái lớn lên thấy anh nào làm ra tiền thì ưng. Có mấy anh đóng cối dạo, anh hoạn lợn qua làng cũng cõng được mấy chị đi theo. Nhớn lên tôi biết mấy anh phó cối anh hoạn lợn anh hàn nồi qua làng tôi đều xuất thân từ dưới xuôi lên. Toàn dân Nam Định cả. Thế mới thấy dân Nam Định họ khôn ranh bôn ba và đạc biệt là họ chịu xê dịch . Cái sự xê dịch truyền thống của họ là tiền đề cho sự nghiệp của họ thăng tiến. Chứ cứ như người làng tôi thì chán chết. Khu khu điền dã như tôi đây đến vợ con nó cũng ngán ngẩm
Ngồi tè he ven đường đất đỏ thả trâu ăn dưới ruộng mới gặt. Lũ trẻ chơi đủ thứ trò . Cứ nhìn bọn con gái chơi Chuyền mà sốt ruột. Tay tung đến đâu mồm nó đưa đến đấy. Cái đầu chúng nó thì cúi xuống ngửa lên như con gật gù .. 
que mốt que mai /
cái trai cái hến 
Con nhện giăng tơ 
Quả mơ quả táo 
Cán gáo sang đôi 
Mồm chúng nó dẻo quẹo, mắt cứ sáng long sáng lanh
Đôi tôi đôi chị 
Đôi cành thị
đôi cành na
đôi lên ba 
Rồi mấy đứa đứng ngoài hô theo đứa trong cuộc 
Ba ta 
ba mày 
Ba cái cầy 
Một sang tư …Nhìn quả chuyền bằng quả bưởi non tung lên hạ xuống chóng cả mặt nghe đến cái đoạn 
Năm rau Răm
Năm lên sáu 
Thằng Vân đá tung cả bàn que chuyền . Tụi con gái chóe lên Địt mẹ Vân Quí nhá, Vân Quí nhá . Bà Quí mẹ thằng Vân đang đon rạ dưới ruộng kêu váng lên : ỐI Vân ơi là Vân ơi mày để cho chúng nó réo tên cái nhà mày ra kia kìa …Thằng Vân dứ quả đấm về phía con Thành Quì rồi chạy đi. 
Tàu khách về. Cả lũ quên phắt cái chuyện chửi nhau chạy ra áp đường tàu đố nhau tàu có mấy toa. Lũ trẻ reo hò khi toa cuối cùng vút qua. Thằng thắng cuộc được cõng một đoạn từ gốc đa ra tới hàng phở Bủ Nộm. Có hôm thằng Bùi Vượng thắt quần dải rút bằng dây chuối đang cõng thằng Cư đứt dải rút cái phựt. Vội buông tay kéo quần làm thằng Cư lăn ra đường. Lũ con gái he hé ré lên , ngặt nghẽo.
Khoái nhất là nghe tụi con gái chúng nó chửi nhau. Lũ con trai chúng tôi đứng ngoài xuỵt thêm vào thế là chúng nó chửi càng hăng . Đứa bên này bờ ruộng rẩu mỏ về đối phương bờ ruộng bên kia mà ra rả :
con đĩ đầu đanh / nấu canh củ tỏi / Mẹ chồng chưa hỏi / đã đòi làm dâu / Chồng chưa đi câu / đã đòi xách giỏ / Chồng chưa đi mò đã đòi rang tôm .
Hồi ấy chả hiểu mô tê gì mà chúng nó cứ tức tối cái bài chửi ấy thế. Nhớ nhất bà Quí mẹ thằng Vân chửi mất gà. Chao ôi bà ấy có giọng mới vang làm sao.Vang và chua. Mà chửi nhau thì cần nhất là giọng chua. Mấy nhà bên cạnh nghe mà ấm ức mà tức tối. Cứ chập tối là bà ấy tru lên: Mấy nhà bên cạnh nghe mà sôi máu tức gan. 
…" CHa năm đời mười đời thàng nào con nào ăn cáp gà nhà bà. mày lấy gà của bà mày hóc xương be mày đè xương cánh, mày cắm cờ xanh đầu ngõ mày cắm cờ đỏ đầu giường. Cha tiên sư bố mày, mày đi đằng xuôi mày chết đằng xuôi mày đi đằng ngược mày chết đằng ngược , con gà nó thành ma vương nó làm cho nhà mày tù đâm chết chém. …
Chửi đến nỗi chó trong xóm sủa ong óc mà bà ấy vẫn chửi. Thằng Vân kéo mẹ nó về mẹ nó vằng cho cái té ngửa .

*****
25/7/2018

Vườn xưa



Ơi là lục bát nhà quê
Đáy nghiêng cả mắt người đi bến chiều
Em đem gột đất cầu ao
Bao nhiêu té nước lại trào sang nhau

ếch uôm tháng bẩy mưa rào
Nõn chiều lóe nắng thầm thào hương sen
Cắm sào cất vó nửa đêm
Mấy tàn đom đóm tắt vườn nhà em

Người đi xa hút nỗi niềm
Tìm đâu lục bát với mìền ca dao
Tôi nghe chiều ấy mưa rào
Có như tiếng ếch gọi vào vườn xưa
7/2018

Cây khế ven đường


Có một cây khế già
Đứng bên đường đến lớp
Hoa tím vào trang sách
Dửng dưng chúng mình qua

Đến một ngày về lại
Hội lớp rồi hội trường
chẳng ai người đến đó
Hoa tím vương vào sương

Có hai người lẫm chẫm
Đến ngồi bên suối buồn
Trường xưa về thành phố
Tình xưa thì rừng hoang

Có một cây khế già
Bao nhiêu là thổn thức
Bao nhiêu là chia li
Bốn mùa hoa tím biếc

3/8/2018

EM ĐI VỀ PHÍA TRAI TRẺ ĐỜI ANH


Em đi về phía trai trẻ đời anh
Mùa mưa đỏ dầm chân trắng
Tuổi chúng mình đâu còn dấm dẳn
Mà yêu thương cũng cứ khiến bùi ngùi

Mưa Tây Nguyên cứ gõ liên hồi
Suối cạn thế nay bỗng gầm như xé
Anh bảo ngày xưa còn hơn thế
Bao đứa bạn anh lũ cuốn không về

Tháng này tháng ngâu nát nhoét đường đi
Cơm nắm chua loét đường bám địch
Muỗi đốt qua cả làn pháo kích
Thế mà nhật kí vẫn tên em

Mùa mưa Tây Nguyên cởi trần hành quân
Đồng bào đóng khố còn chúng anh quần cụt
NGớt pháo kích bên suối cười rinh rích
Quân với dân cách mạng bằng nhau

Nửa thế kỉ sắp qua bạc trắng mái đầu
Em lên bà lại đi về vùng anh thời trai trẻ
Ơi những dòng sông rẫy nương đêm trú quân nghe hơi thở
Tiếng đồng quê thơm như cốm hẹn về.

Mùa này không có hoa cà phê
Cúc Quì vẫn nằm im chờ sương xuống
Em có về không Cheo Reo rừng muỗm
Thơm cả miền nức nở dọc sông Ba

Ơi Tây Nguyên tuổi trẻ chúng anh qua
Gửi ở đấy những là mơ là ước
Sau cơn đói nhớ về trường về lớp
Là nước mắt mình tưới ướt tóc của nhau

Phía trai trẻ lính Tây Nguyên chẳng thể quên đâu
Phía ấy Ba zan anh đằm như mật
Ơi tiếng đàn tơ rưng tưởng như đã mất
Mà trong em đăm đắm cứ hiện về
Tháng 8/2018

Lập Thu


Em bảo lập thu rồi đó
Mà mưa mưa vẫn xụt xùi
Anh mang hong trang nhật kí
Lên mùi mùa thu xa xôi

Bước nhau qua miền kí ức
Phong phanh áo mỏng bờ vai
Ơi cái mùa thu dấm dứt
Còi tàu những ngược những xuôi

Bọn anh đi về phía ấy
Có những lá cờ rộn ràng
Có những yêu như phơi phới
Có bao nhịp tim xốn xang

Lập thu như thể là xanh
Tiết thu như màu vàng thắm
Cái thời chúng anh hành quân
Bom rơi vào màu thăm thẳm

Người đi mang những mùa về
Bao nhiêu nói cười thơ nhạc
Những người lính không làm thơ
Mùa nào cũng là dĩ vãng
8/8/18

Kí ức


Có anh lính già rồi. Chả giàu có gì như lớp buôn chổi đót sau này nhưng chịu khó học, chịu khó đọc. Cái khốn nạn nhất cho thằng lính chiến là chịu khó đọc. Mà lại đọc đa phần về tình yêu lí tưởng cách mạng về kinh tế XHCN về vị nhân sinh và về lí tưởng theo cái lí tưởng đã qua.
Quá vãng rồi. Lính già tụ tập nhau họp CCB bó gối nhìn trăng trôi ngoài lũy tre kí ức về đời mình. Quái lạ! Đời anh lính nào chả là chết chóc và bi thương. Ấy thế mà họ cứ nhớ về thủa ấy cứ như không có những ngày bùm đoàng ấy thì họ không sống nổi,không còn chuyện gì để nói. 
Vợ bảo , hâm !
Hàng xóm bảo, mấy ông này giời đày!
Ấy thế mà chỉ có Sơn Tinh đóng đô trên Trường sơn thì bảo, đấy là THẰNG NGƯỜI.

Ở vùng đất chữ S này có đến vài triệu “ thằng người “ ấy, chết gần hết rồi mà vẫn hay kí ức lính. 
Chuyện rằng. 
Ngày ấy trên Trường sơn có chú lính cứ đêm tối mắc võng là hát “ Bạn thanh niên hớ hơ ơi. Ta cùng nhau lên đường…”
Rồi lại hát “ Xe ta ơi lên đường ra hỏa tuyến. Trăng mọc chậm mắt thần ta đã luyện..” 
Ngửa mặt lên nhìn trăng trôi khuất vòm lá rừng u u tiếng máy bay giặc Mỹ. Mơ ngày mai đến tận Huế đến tận Sài gòn. 
Cõi này cõi tạm mà họ chen chúc nhau đánh vã vào nhau để kiếm miếng sống để cho con ra nước ngoài trú ngụ. Sự du học thực ra là chạy trốn cõi mình . Bao nhiêu thiêng liêng đều không có cốt lõi chỉ mỗi sự đê hèn lại là cốt lõi của chính cha mẹ tổ tiên con người đó.
Anh lính già ấy một tối bó gối nhìn trăng trôi qua làng mình, thổ lộ. Anh ta yêu từ hồi trên Trường sơn. Hỏi yêu ai? Anh ta đếch biết. Rồi anh bảo, mình yêu cái sự cũng rất già. Đó là cái Thằng Người ngày xưa. 
Ô hay . Người ngày xưa với người bây giờ khác nhau ư? Đúng là ông lính này hâm /

11/8/2018