Friday, January 4, 2019

HOA ĐÀO

HOA ĐÀO
Năm 1958 tôi đi học vỡ lòng rồi. Hai năm học vỡ lòng cơ chứ. 1957 mới 5 tuổi nhưng vì ở chung nhà với bác cả lại nghịch ngợm nên khi chị tôi đi học tôi phải đi theo ngồi bên chị. Chị học dốt hơn thằng em cởi truồng ngồi bên cạnh ( chả hiểu sao mình thích cởi truồng thế). Chị bị đúp lớp vỡ lòng mình vào học cùng chị chính thức luôn năm sau. Vì thế tuy học vỡ lòng thì năm 1958 tôi đã đọc thông viết thạo. 
Gần nhà có thằng bạn bố nó là thượng úy . Ngày ấy bố nó to nhất làng. Chỉ có nhà nó tết mới có nhiều pháo nhiều kẹo và bố nó từ QK Tả ngạn về mang cho mấy tập truyện tranh. Lần đầu tiên tôi được đọc truyện tranh quí giá ấy. gần sáu mươi năm sau bây giờ tôi vẫn nhớ vẫn ngửi thấy đâu đây mùi giấy mới hít hà thủa ấy. Cuốn truyện mang tên CHIẾN THẮNG MÙA HOA ĐÀO. Đến bây giờ vẫn nhớ con ngựa phi như điên mang cành hoa đào của Nguyễn Huệ về nam tặng công chúa Ngọc Hân. Cái tên họa sĩ Tạ Thúc Bình ăn vào trí nhớ tôi từ đó.
Lớn tí nữa lại tết về cây đào ngoài vườn nhà tôi nơi tôi hay treo cái bẫy chim chào mào non mơn mởn búp mà hoa thì thưa thớt. Đào quê tôi ít hoa lắm cánh phớt hồng và mong manh như hoa Lê( bố tôi gọi cây lê nhà tôi là mắc cooc) . Sau mùa xuân những quả đào bé như mầm giềng xanh như màu lá mạ. Cây đào rõ to chỉ độ mươi lăm quả . Bố tôi bảo , đào là giống quả quí. Chả biết quí thế nào tôi chỉ ưa cái mùi quả già chưa chín có vị chua và thơm một cách lạ lùng.
Lại tết, cây đào ngoài vườn lốm đốm hoa, chim sâu nhảy chon chót trên cành cây. Tôi sợ nó dẫm lên cánh hoa nên đuổi huây huây. Con chó con nhao ra gốc đào khiến lũ chim bay vù lên cành lê đứng ngó ngoáy. Chiều 29 tết bố tôi về từ trường cấp1. Ông cất cặp sách rồi cầm dao ra gốc đào. Tôi nín thở nhìn theo. Ông ngắm nghía rồi chặt một cành to đầy búp non và lác đác mươi nụ hoa. Chả có lọ có bình, bố tôi buộc cành đào vào cột nhà. Ông bảo ngày tết dưới xuôi người ta cắm hoa đào. Tôi ngó ra cửa chuyến tàu hỏa qua cửa nhà về xuôi kéo còi toe toe. 
Tôi buồn lắm, nghe bố gọi thằng cu đốt mảnh đóm thui nhựa cành hoa đào cho nó tươi lâu. Tôi châm đóm và thui lên gốc cành đào bố vừa chặt. Chả có tí nhựa nào chảy ra. Tôi bảo bố, không có nhựa đâu bố ạ. Ông im lặng không nói gì. Cành hoa đào nhuốm khói lam nham đến là thương .
Từ ấy kí ức hoa đào với tôi là truyện tranh ông lính cưỡi ngựa gò lưng phi trong mưa rét mang cành đào Thăng Long về Phú Xuân cho vợ Bắc bình vương Nguyễn Huệ. Là chú chim sâu nhảy lách chách trên cành, là khói đốt lam nham nơi gốc cành hoa. Nhưng càng lớn lên tôi ngẫm ra rằng, hầu những loài cây trút tinh túy tạo nên hoa đẹp thì nhựa của nó càng ít. Cây Mận cây Lê cây Cúc cây Hồng cây Lan cây Ly … cây Mộc miên… chẳng cây nào có nhựa nhiều. 
Tôi ngụ lại ở Hà nội lấy vợ ở xứ này lại đúng vào vùng đất hoa đào. Ấy vậy tôi vẫn không thể thích hoa đào Nhật Tân hay Quảng Bá hay Xuân Đỉnh vùng quê vợ tôi. Tôi vẫn cứ ngẩn ngơ nhớ cây đào trên mạn ngược quê tôi rất ít hoa và nhiều búp. 
Chiều qua vợ chồng đèo nhau về mạn hồ Tây thắp hương cho Bố U nhìn người ta chở hoa đào tây bắc về nghìn nghịt. Tôi thương thế những cành cây khô khốc nụ hoa bé tí hệt như người mẹ già cam chịu rét mướt ôm ấp những nụ con thơ đang li biệt xứ người

Giang Tiên


Nửa thế kỉ qua rồi mà chưa trở lại Giang Tiên. Bỗng cảm như mình là một thứ con trai phũ phàng với người con gái từng yêu quí mình. Giang Tiên hệt như một cô sơn nữ tốt nết và vô cùng thông mình. Nàng sơn nữ ấy có tiếng chứ chả phải ngồi mà bịa ra trong lúc phê rượu phê trà.
Tôi đi qua Giang Tiên lần đầu vào năm 1969. Cuối thu,, se lạnh. Ngồi trên cam - nhông đi ngược Bắc - cạn để chặt nứa chặt tre về dựng lớp học. Qua Bờ Đậu thấy có đứa bảo, sắp đến Giang Tiên. Bật nhớ những gì mình đã đọc của Trần Đăng, của Nam Cao ( ở rừng) của Thôi Hữu nhắc đến Giang Tiên. Họ viết ở Giang Tiên nhiều quán xá gái Hà Nội lắm. Họ bảo Cà phê Giang Tiên như một gốc cây ven hồ tây với khói thuốc ẩn khuất mặt cô chủ quán, với nụ cười ngạo mạn nơi những chàng Vệ quốc quân trên chiến địa Việt Bắc. Mình chưa biết cà phê là gì cũng đã thấy mơn man háo hức nhìn gái Giang Tiên. Và, Giang Tiên với tôi là một khúc đường hai bên ken dầy cây Phượng Vĩ. Khúc đường ấy chỉ dài chừng vài trăm mét thôi nhưng chui trong một vòm cong phượng vĩ trước khi vào Giang Tiên. Cuối thu, lá Phượng vĩ nham nhở vàng và bay bay như muối vừng rơi tả tơi trong nắng leo lét chiến khu. 
Lần qua Giang tiên nữa là 1 tháng sau, tháng 11/1969 khi đi chặt nứa về từ Chợ Mới Bach Thông về xuôi. Giang Tiên có mùi cốm . Xe dừng ở thị trấn. Một thị trấn vùng cao đặc mùi thị thành Thăng Long. Thấp thoáng những người phụ nữ đẹp, lặng thinh, tóc phi dê sau quầy hàng mà quầy hàng nào cũng thơm như va ni bánh kẹo. Họ là lớp người còn lại muộn mằn chưa về lại Thủ đô. Ở Giang Tiên người ta nhớ người THủ đô đến mãi tận bây giờ.
Tôi trở lại Giang Tiên nhiều lần sau đó 3 năm. Tháng 5 / 1972 trường đại học sơ tán về Đại từ ( xã Phục linh). Tôi về quê đưa tang ông nội khi đến trường mới biết trường đã lên Đại Từ. Tôi lọ mọ tìm đường lên PHục Linh. Họ bảo lên Giang Tiên rồi đi vào Phục Linh qua Hà Thượng. ÔI Giang Tiên lại hiện ra , thơm thảo bồn chồn. Tháng năm, nắng lắm mà Giang Tiên mát y như ngồi bụi tre ven suối. Ở đây lần đầu tiên tôi ngửi mùi thơm của phở Hà nội . Từ năm đi đại học tôi chưa bao giờ được ăn phở . Chỉ ngửi thôi. Mà ngửi phở Hà nội thì lại ngửi ở Giang Tiên trên Việt bắc. Sau này nghĩ là may. Mùi ấy mới là mùi phở Thủ đô. Cái mùi vị ẩm thực chỉ chính xác khi con người ta đói. 
Có con đường đá rẽ trái từ thị trấn đi vào mỏ than Làng Cẩm. Tôi nhớ cây cầu sắt từ thời Pháp qua suối Giang Tiên. Tôi nhớ cô gái 15 tuổi dẫn đường cho tôi vượt qua núi Pháo sang xã Phục Linh. Trưa hôm ấy nắng nhễ nhại. Cô gái học lớp 7 nhà trong khu công nhân mỏ dẫn đường cho tôi còn đi lên đỉnh đồi chỉ cho tôi vào nơi tôi sơ tán. Cô bảo , có một trường đại học vừa lên đây tuần trước, eo ôi toàn là người học giỏi và đẹp đẽ. 
Chỉ sau 3 tháng ở nơi sơ tán ấy là tôi lên đường đi chiến đấu. Con suối Giang Tiên lùi lại phía sau. Tôi lại đi qua núi Pháo qua nhà cô bé dẫn đường cho tôi dạo đầu hè. Giang Tiên từ ấy xa tít tắp. 
Cái ngọn núi Pháo mà gần đây cả nước biết tên ấy là sự bẩn thỉu của lợi ích nhóm này nhóm nọ mang tên các lãnh đạo tử tế. Thôi chả nói làm gì cho bẩn trang tản văn trong sáng. Cây cầu cũ qua suối Giang Tiên và hàng Phượng vĩ nơi thị trấn hơn nửa thế kỉ qua chứng kiến cuộc kháng chiến chống Pháp của cha ông mình rội lại chứng kiến lớp cháu con Việt Bắc ra đi đánh Mĩ. Giang Tiên vẫn kiêu sa vì các ngôi nhà quán hàng hiện giờ vẫn mang tên các thiếu nữ Hà Thành hơn nửa thế kỉ trước. 
Thế mới biết, Tên đất, tên rừng , tên làng, .... ở đâu cũng vậy , đều có linh hồn.


5/11/2018

Sáng ở chung cư


( viết trong lúc đợi xem kết quả bầu cử của Mẽo )
Sáng hanh hanh vạt hoa góc chung cư lốm đốm lá phượng vĩ lăn tăn lối ra đường những bàn chân lom dom đi bộ lúc cháu con còn chưa ngủ dây.

Một cái xe đạp đi cùng người đàn bà nhặt rác chùm kín ni - ja bật một tiếng chào rất hiền giống hệt như người làng mình chào nhau buổi sớm ra đồng
Mấy lão bụng phệ chém gió tình hình bầu cử Đô na Trăm bước đường hoàng lên luống hoa sang bên kia đường, kịp nhìn thấy vệt phân cách sâm sấp nụ hoa vàng trên cỏ xanh
Ngoài ngõ có những hàng hoa chở cả mùa thu đi vào rất quê mà rất phố. Cúc họa mi cưn rưn dưới bình nước phun lạnh sót sa cứ mỗi lần chị bán hoa dừng lại ngang đường
Tôi tính nhẩm 2 vòng đi từ nhà đến hàng cháo lòng là nửa cây đi bộ rồi nhẩm tiền lẻ có đủ không để khỏi bị con mẹ bán hàng cằn nhằn sớm ra mà đã ám , vẫn biết người Hà nội là thanh lịch lắm.
Hà Nội cuối thu hăng hăng hệt như mình bị đứa bạn ngày xưa bóp vỏ bưởi vào mũi. Ồi thì ra lúc sáng sớm chửa tan sương ô nhiễm choáng cả người
6/11/2018

“Muộn còn hơn không” – nhân đọc tiểu thuyết “Rừng đói”( tác giả: Trương cộng Hoà )

“Muộn còn hơn không” – nhân đọc tiểu thuyết “Rừng đói”

VOV.VN - Rừng chứng kiến nhũng cơn đói của lính và chứng kiến họ vươn lên “không kêu đói nữa”. Chỉ còn "rừng đói”.

Một người bạn của tôi, sĩ quan cấp tướng, đưa cho mượn cuốn tiểu thuyết “Rừng đói” của Nguyễn Trọng Luân (nhà xuất bản Hội nhà văn) có chữ ký nắn nót của một nhân vật trong truyện, đại tá Khuất Duy Hoan, trước khi nghỉ hưu là phó Tư lệnh Quân đoàn 3.
Tôi đã đọc một mạch hết cuốn sách dày hơn 170 trang khổ 13x19 in dòng thưa. Và THÍCH. Và tự trách mình sao không biết “Rừng đói” khi nó vừa xuất bản? Nhưng trách là trách thế thôi chứ làm sao biết hết được các đầu sách ra từ các nhà xuất bản, các nhà sách, các vùng miền. Nhất là cuốn sách chỉ in có 1.000 cuốn. Riêng biếu bạn bè đã hết một nửa rồi.
Vâng. 500 chàng sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng ở quân khu Việt Bắc đi lính, vào chiến trường Tây Nguyên bổ sung cho sư đoàn Đồng Bằng 320 năm 1972. Và 100 ngày đầu tiên là vượt biên giới Gia Lai-Kon Tum sang nước bạn Campuchia làm nhiệm vụ đào sắn, thái lát, phơi khô rồi chuyển về phía sau cho cả sư đoàn ăn mà đánh giặc. Những rừng sắn mà đơn vị bộ đội nào hành quân qua cũng phải trồng. Trồng cho người sau ăn.
Tác giả Nguyễn Trọng Luân nguyên A trưởng trinh sát, sinh viên năm cuối cùng khoa Cơ khí Đại học Cơ Điện Bắc Thái. Anh đã có hơn 10 đầu sách cả truyện, ký, thơ, đều viết về đời lính và bạn lính. Cuốn “Rừng đói” đề là “tiểu thuyết” nhưng tên nhân vật đều là tên thật. Như vậy là đồng đội anh chấp nhận để anh có thể “hư cấu” các chi tiết. Miễn làm sao nói đúng được cuộc sống của 500 chàng binh nhất trong 100 ngày chịu đói đi "mót sắn” nuôi quân.
Hãy đọc một đoạn tác giả kể chuyện cả đại đội đói quá, nắng quá bỏ không phơi sắn, bị chính trị viên đại đội quát: "Giữa trưa nắng mồ hôi mồ kê nhễ nhại, chính trị viên mặt tái ngoét ôm mớ rau sắn héo quắt vào bụng, nhìn lần lượt từng người. Chả hiểu mồ hôi ông ấy chảy trên trán xuống mắt hay là ông ấy nói xúc động quá lên nên nước mắt chảy ra. Chúng tôi thằng nào thằng nấy lại chui lên rừng, hì hụi moi sắn từ những bãi cây rầm rì.
Thật may, giữa cái đói những người lính sinh viên gặp toàn người tốt. Đại đội trưởng, Chính trị viên đại đội tuy không thể giải thích cho lính “sen đầm quốc tế “ là gì, cũng như không biết “người chết đứng” là Từ Hải chứ không phải là Hồ Tôn Hiến, nhưng gương mẫu, thương lính và có cách giải thích “rất lính” cho lính hiểu. Kiểu như “người lính không được phức tạp hoá tình hình. Làm phức tạp tình hình là tình hình sẽ rất tình hình”. Kiểu như “đè cái chết để nhoi lên. Sống ở ngay cái chết ấy chứ đâu”.
Một người lính coi kho “cái lưng trần đen bóng gù gù ngồi nhổ cỏ”. “Thằng Sỹ mau miệng:  Đồng bào. Đồng bào làm cách mạng lúa cách mạng dưa. Bộ đội ưng đồng bào. Cái đầu bù xù ngó lên nhìn mấy thằng lính rồi lại cúi xuống nhổ cỏ tiếp. Anh mặc quần đùi. Rõ là quần đùi bộ đội, nó cáu bẩn vì đất đỏ. Cái lưng trần nâu bóng có những vệt mốc bờn bợt trắng. Chúng tôi ngạc nhiên nhìn khẩu AK để dưới cỏ.
Thằng Hoan lại lên tiếng: Đồng bào có thuốc lá bộ đội xin. Cách mạng đoàn kết. Người đàn ông ngẩng lên… "Đồng bào cái con khỉ! Thuốc hả? Có đấy.”… Đó là anh Diện, vào đây từ cuối 1965 và một mình coi một cái kho cho đến hết năm 1972 mới được giao nhiệm vụ mới. “Thằng Sỹ gọi anh là anh Rô bin sơn”. Anh trợn mắt, tao không không giống Rô bin sơn. Tao biết tao sống một mình vì cái gì, tao biết bên tao còn đồng đội chứ, biết mục đích mình sống cô độc ở đây chứ…”. Được về đơn vị chiến đấu “Anh chào chúng tôi rồi còng lưng đeo ba lô đi về phía đông. Khẩu súng AK của anh mốc thếch nép bên sườn. Trên nắp ba lô cái ông bương bàn thờ Bác Hồ lấp ló.”
Và những cô gái xứ Quảng đi tải đạn, tải lương thực, tải thương binh… Đám lính Việt Bắc chỉ được một lần gặp trung đội gùi thồ ấy. Tác giả nhấn mạnh: Nhưng chỉ một lần thôi gặp họ mà chúng tôi thấy mình đổi khác. Chỉ từ hôm ấy không thằng nào kêu đói ra mồm nữa… Riêng tác giả lần đầu tiên được một cô gái ôm  “Sốt rét thì sẽ khỏi nhưng đói thì dai dẳng đến lúc hy sinh. Em sợ… cô gái ngẩng lên nói rõ gọn và dứt khoát. Anh mần em cái hun (hôn) đi anh… Tôi không nhớ cái hôn thế nào. Chỉ nhớ mùi cánh rừng chỗ nơi các cô trú lại một đêm bên cạnh đại đội tôi. Đêm ấy cuối mùa khô 1972. Một cô gái nói giọng Quảng Nam".
Một cái chết ám ảnh những người lính cho đến hôm nay. “Trung đội thằng Sỹ có thằng Khoái đẹp trai nhà ở thị xã Thái Nguyên nó gùi sắn đi như không. Thế mà thằng Khoái đổ ốm rồi. Nó nằm rên hừ hừ gọi anh Sỹ ơi, anh vặt cho em nắm lá bứa. Bẻ cành bứa để vào đầu võng cho nó rồi cả trung đội lại đi vào rừng. Thằng Khoái nằm ăn lá bứa ôm khẩu AK trên võng… Tiểu đội quyết định hôm nay nấu ba bát gạo thay vì hai bát như mọi hôm… Nhá nhem tối có con mang ra nương sắn… Sỹ nổ một phát trúng ngay. Thằng Dương lấy lá chuối rừng quần vào vác về. Sỹ bảo, chạy nhanh lên mổ nhanh nấu cho nó bát cháo tim.
Nhưng Khoái không kịp ăn bát cháo đồng đội nấu cho.
Những người lính không kêu đói nữa. Từ đó "đêm thùm thũm trên những mái tăng và sương ướt nhâm nhấp võng. Rừng èo ọt gió. Như thể là rừng đói".
Trong cánh rừng này những người lính vẫn gọi nhau mày tao "hệt như chúng tôi đang sống ở quê. Trong cánh rừng này chưa bao giờ chúng tôi rên rỉ vì đói vì buồn. Đói lính ta vẫn hát buồn lính ta cũng hát mà vui lính ta lại càng hát”
Đọc hết câu chuyện mới thấy “rừng” cũng là một nhân vật quan trọng. Rừng chứng kiến đủ cảnh lính tráng. Từ “có chú nai vàng nghiêng đôi tai ngơ ngác” nhìn những chàng lính trẻ “ngắt một đoá hoa rừng cài lên mũ ta đi” đến những cánh rừng lạnh sâu thăm thẳm, nơi cả một đội hình lính cời truồng vượt suối. Và rừng chứng kiến nhũng cơn đói của lính và chứng kiến họ vươn lên “không kêu đói nữa”. Chỉ còn "rừng đói”.
Lại nhớ câu ca vang vọng một thời “ta vượt trên đỉnh núi cao Trường Sơn. Đá mòn mà đôi gót không mòn”.
Đã có độ lùi thời gian để Nguyễn Trọng Luân tả rừng đẹp, cảnh đẹp trên đường ra trận của người lính mà không sợ bị phê là “tô hồng”. Người lính Cụ Hồ, anh bộ đội Cụ Hồ, tiểu đoàn lính sinh viên đã vượt qua cái đói để sống và chiến đấu. Anh có lối kể chuyện hóm hỉnh, câu văn ngắn gọn và không sợ dùng những cách nói đầy chất lính tráng. Kể cả những lúc lính văng tục. Tôi thích một đoạn văn anh tả “vết dây võng” (trang 164):
... “Nhìn vết dây võng trên thân cây mà hiểu được tâm tình đồng đội. Thằng nghịch ngợm cựa quậy đung đưa vết dây võng cứa lam nham. Thằng chỉn chu trầm lắng vết dây hằn lõm vào vỏ cây chỉ một vệt. Trên suốt dải Trường Sơn có hàng triệu vết võng cứa vào thân cây . Những vỏ cây Trường Sơn tứa nhựa. Thời gian sẽ làm mờ đi những dấu vết đó. Nhưng sẽ phải rất lâu".
Nói theo kiểu phê bình thì tiểu thuyết” Rừng đói” đã có những nhân vật điển hình trong những hoàn cảnh điển hình. Trong lời cuối chuyện, Nguyễn Trọng Luân  nói rất khiêm tốn: "Trong bao nhiêu sự dũng cảm của người lính, bao nhiêu trận đánh hào hùng ngày ấy chúng tôi từng trải qua, chúng tôi thấy mọi sự trở nên bình thường vì chúng tôi là lính”. Chuyện về một tiểu đoàn chưa giáp trận chỉ đi đào sắn cho đơn vị ăn mà đánh nhau… không có gì li kì cao siêu cả. Ấy vậy mà những người lính sinh viên thì nhớ mãi. Nó còn nhớ rõ rệt hơn những trận đánh sau này của đời lính trận chúng tôi. Trong cái tiểu đoàn mót sắn này có hai người trở thành Anh hùng lực lượng vũ trang và hàng chục dũng sĩ ưu tú.
Là một sự tình cờ thú vị. Tôi - kẻ viết bài giới thiệu cuốn sách này, tháng 11/1975 ở hậu cứ của Quân đoàn 3 tại Thủ Dầu Một (Bình Dương) đã gặp, trò chuyện và phỏng vấn, phát trên đài phát thanh Giải Phóng câu chuyện của một trong hai Anh hùng của Tiểu đoàn lính sinh viên mót sắn. Đó là Thượng sĩ Nguyễn Vi Hợi - người chiến sĩ nổi tiếng trong đợt truy kích địch khi chúng rút chạy từ Gia Lai về Cheo Reo – Phú Bổn.
Một trong những khẩu hiệu mà Hợi phát loa để lính địch nghe là “hàng thì sẽ có ăn”. Tôi gặp Nguyễn Vi Hợi tại Đại hội mừng công của Quân đoàn 3 cùng với Đoàn Sinh Hưởng, lính tăng, sau này cũng được tuyên đương Anh hùng. Còn có cô bé biệt động Sài Gòn Nguyễn Trung Kiên, nổi tiếng với bức ảnh chụp đang dẫn đoàn xe tăng Quân đoàn 3 đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu nguỵ.
Một chi tiết nhỏ, có thể Hợi quên nhưng tôi thì nhớ, vì đó là bài học nghiệp vụ của người làm báo. Cùng gặp Hợi có nhà báo Thép Mới (báo Nhân Dân) và một cô phóng viên báo Giải phóng của Mặt trận dân tộc giải phóng, môi còn thâm đen vì sốt rét. Bạn đồng nghiệp báo Giải phóng hỏi một câu theo tôi là “hơi thô” với một người lính sinh viên. Hợi đang cười vui, bỗng nghiêm nét mặt, trả lời… Tan cuộc, tôi rỉ tai bạn đồng nghiệp “lính có học” để cô bạn thông cảm.
Chiến tranh tháng 2/1979, tôi nghe nói Vi Văn Hợi cũng chỉ huy một đơn vị  chiến đấu ở biên giới phía Bắc nhưng không có dịp gặp lại. Hôm nay, biết thêm một góc sống rất quan trọng của người Anh hùng. Xin cảm ơn tác giả “Rừng đói” và xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc một cuốn sách in đã hơi lâu, nhưng đáng đọc và nên đọc.
“Muộn còn hơn không”. Nhưng thực ra chẳng bao giờ là muộn cả. Việc ôn lại những phút giây “đời người chỉ sống có một lần” trong cuộc trường chinh vì Độc lập Tự do của Đất nước, của Dân tộc./.
Trương Cộng Hòa/VOV

BÀI THƠ TRÊN BÀN NHẬU




Nào uống chén này cho thằng Khoái
Chả kịp húp tí cháo rồi đi
Chén này mình uống cho thằng Lệ
Ở tận Tuyên Quang chả biết gì .

Chén này thằng Quyết moi ra hết
Ảnh của những Minh Đức Thu Nga 
Cả anhr Ái Vân đem đổi hết
Bao diễn viên lấy một con gà

Nửa thế kỉ chiến chinh lọan lạc
Thế mà nay nhang nhác nụ cười
Tôi ghé bạn như là tôi hỏi bạn
Kiếp chúng mình bấy nhiêu nợ mà thôi

Rừng đói ngày nào èo ọt gió
THế mà nay làm chỗ gọi nhau về
Ơi những đứa sinh viên cùng nhập ngũ 
Cứ ngậm ngùi nhớ đến mùa thi
13/11/2018

DAY DỨT. ..KHÔN NGUÔI (tác giả : Trương Cộng Hoà )



DAY DỨT. ..KHÔN NGUÔI
( bài chép từ trang của nhà báo Trương Cộng Hòa- cám ơn nhà báo )

Tối qua, gặp mặt mấy cựu lính tiểu đoàn sinh viên quân khu Việt Bắc nhập ngũ năm 1972, đi Nam trong đội hình sư đoàn 320 -các nhân vật chính trong tiểu thuyết "Rừng đói" của anh Nguyễn Trọng Luân.
Nguyễn Trọng Luân tặng mình hai cuốn sách xuất bản năm 2017 (nxb Hội nhà văn). Tập truyện ngắn "Bóng đổ nhà mồ" và tập hồi ức lính trận d 76 sư đoàn 304 B nhan đề " Thời trai trẻ hào hoa".
Chiều nay đọc được mấy truyện ngắn : Bãi Giữa-Bóng đổ nhà mồ-Chiều cuối năm- Chuyện trong ngày họp mặt trung đoàn- Chuyện ở nhà thằng Sơn C20- Đêm ở Sài Gòn không ngủ- Chuyến tàu cuối năm- Bông hoa Pơ lang- Cựu chiến binh".
Trừ truyện ngắn "Đêm ở Sài Gòn không ngủ" viết theo dạng "liêu trai" còn đều viết theo dạng "tả chân", Câu chữ ngắn gọn nhưng không kém phần "văn".
Mình không muốn dùng hai từ 'ám ảnh" hay "hội chứng " nhưng quả thật day dứt khôn nguôi. Không đợi đọc hết cả hai tập mà muốn bộc bạch tâm trạng của mình.
Nguyễn Trọng Luân thật yêu quê hương. Những câu chữ của anh nói về con sông thở than, bãi giữa đón nhận tiếng vọng của cuộc sống đôi bờ dòng sông, một cái ga xép chứa chan bao kỷ niệm,, những mùa hoa cải vàng hoa cải trắng..
.Chúng ta ra đi để bảo vệ làng quê đồng đất quê ta như một điều tất nhiên.
Và số phận những người lính. Những người cha người me người vợ người con NGƯỜI LÍNH.
Vẫn phải viết thôi, anh Luân ạ. Các anh không kể,làm sao con cháu ta biết được tổ tiên ông bà cha mẹ, những bậc "tiên hiền" đã sống và chiến đấu như thế nào. Trong chiến tranh và cả thời hậu chiến. Và cả trong cái thời hiện nay gọi bóng bẩy là " manh nha nền kinh tế thị trường' còn ngôn ngữ của kinh tế học chính trị gọi là thời kỳ "tích tụ tư bản" mà thời kỳ này theo như các học giả là thời kỳ "lỗ chân lông nào cũng ứa máu".
Cũng đã dài rồi nhỉ. Nhưng phải trích ra đây một đoạn trong truyện ngắn "Bông hoa Pơ lang" - ký ức của một nữ chiến sĩ quân y:
...THƯƠNG BINH CHẾT TRÊN TAY CHÚNG TÔI...Con gái chân yếu tay mềm chúng tôi chỉ biết khóc, chỉ biết vuốt ve nắm chân tay các anh muốn truyền hơi ấm yêu thương của đồng đội tới nhau để thêm chút hy vọng sống. Các anh cũng biết, có người tắt thở rồi vẫn nhìn chúng tôi như níu kéo, bàn tay bấu chặt vào tay tôi như muốn chào tạm biệt, muốn nhắn gửi một nhời gì đó về quê với mẹ với người thân...

Anh có một nhận xét rất hay về cây hoa Pơ lang ở Tây Nguyên mà miền Bắc gọi là 'hoa gạo" vùng Việt Bắc có nơi gọi là 'mộc miên":
"...Đầu mùa mưa, cuối mùa khô hoa Pơ lang sót lại lốm đốm đỏ. Đội điều trị ở một cánh rừng có mấy cây gạo to. Nó cao vượt lên hẳn những ngọn lồ ô xanh mướt mát. Là thì ít mà hoa thì nhiều. Sao cái loài cây này nó không sống cho nó, nó cứ sống cho thiên nhiên nhiều hơn. Ngay cả vào mùa mưa lá nó cũng ít, dường như nó hút tinh tuý cao nguyên chỉ để vắt kiệt máu mình vào màu đỏ của hoa, vào những cánh hoa mỡ màng dầy dạn như những cánh diều hồng như máu? Còn chính thân nó thì khẳng khiu khô khốc những gai nhọn mốc thếch giữa nắng và gió..."

Gửi tặng anh bức ảnh cây gạo = hoa gạo trên đường HCM đoạn Đắc Tô khi tôi đi từ Xê-ca-mản (Nam Lào) về Việt Nam
15/11/2018

CUỘN DÂY DÉP


( chuyện xưa của lính)

Thằng Tiến bổ sung vào đơn vị giữa lúc đánh nhau với quân e53 giải tỏa đường 21. Lúc ấy chập vào mùa mưa. Tháng 5 trời rất nhiều mây những đám mây quánh lại với nhau trôi lừ lừ giữa nền xanh thẫm. Thế rồi bất thình lình mưa rơi xuống như vãi mạ . lát rồi ngừng rồi lại vãi nước xuống . Đám mưa ấy trôi qua, nắng ói lên, người vừa ướt lại bốc khói khiến lưng chiến sĩ cứ như mọc rôm. Lính chửi, mẹ cha nó mưa thì như mưa rào như ngoài ta rồi tạnh mẹ nó cho xong. Đằng này dở ông dở thằng . Bố ai mà chịu được. Cán bộ bảo, ăn thua gì, chúng tao chịu năm sáu mùa mưa rồi. Bùn đất bẩn thỉu, gãi sứt sẹo đến lông chân không mọc được mà vẫn sống đến giờ đó thôi. Lính mới im . Dạ, các anh là lính cũ bì thế nào được. Tất cả tiểu đội lại cười hí hí. Pháo Pờ lây cu lại bắn xoe xóe qua đầu. Tiếng nổ ở xa vài trăm mét cũng đủ làm cho nước mưa trên rừng cây rơi rào rào.
Đêm đầu tiên ở đơn vị mới Tiến hỏi anh Nhớn:
- Anh ơi sao vừa mới về đơn vị đã lên chốt? em không thể hình dung đơn vị mới là mấy cái hầm đầy mùi giun chết này. Sao cấp trên không để cho người ta thở à?
Thằng Nhớn cũng chỉ hơn Tiến “nhõn 2 tuổi” nhưng là lính cũ. nó nheo mắt : 
- Thế mày tưởng đi bộ đội để làm tướng chắc? này nhé, đánh đấm và hi sinh là nhiệm vụ của chúng ta hiểu chưa? Rồi như thấy mình quá lời, Nhớn hạ giọng.
- Nói thì vậy thôi , giống như đảng viên họ quán triêt ấy mà , là người chiến sĩ thì phải hi sinh cho tổ quốc. Tao cũng không rõ hi sinh kiểu gì và bằng cách nào nhưng đại loại là ngoẻo không về với mẹ nữa. 
Thằng Tiến há mồm xuýt nữa chảy nhãi. Nó kịp lấy tay lau mồm. Nhìn anh Nhớn như người anh hùng. Ngày đầu tiên lên chốt yên ả.

Tiến ngủ ngon thế. Nó gối đầu bằng hai cái dép cao su. Từ bé nó đã rất thích cái mùi quai dép cao su. Nó hắc hắc ngai ngái không giống bất kì thứ mùi lá cây hay hoa quả nào ở quê nó. Mùi cao su rất là thành thị. Các anh học lớp 10 trường nó bảo thế. Nó cũng thấy thế. Bằng chứng là cả lớp nó chỉ có hai ba đứa có dép cao su còn thì toàn đi chân đất. Nó kể với anh Nhớn. Em đỗ vào lớp 8, mẹ em bán mấy gánh sắn mới mua được cho em đôi dép. Em không dám đi cả ngày anh ạ. Ở trường về là em tháo ra rửa sạch cất vào gầm giường. Thê mà nó vẫn hay tụt quai . Bố em bảo mẹ em mua phải đôi dép đểu. Mẹ cãi, đểu là đểu thế nào? Ba gánh sắn của người ta chứ ít à. Em thương mẹ quá . Từ hôm ấy tụt quai em cũng không dám nói là tụt. Trong túi sách đi học luôn có cái mảnh tre rút dép.
Có đêm thò cổ dưới hầm lên cảnh giới nó thì thào, anh Nhớn ơi, trung đội trưởng mình là sinh viên à? Thằng Nhớn bảo ừ. Mày học lớp 9 rồi muốn so chữ với B trưởng à? Đâu có thế! Em hỏi là vì em thấy anh ấy dặn bọn bắn cối cứ như thầy giáo dạy lượng giác ở nhà. Nhớn cười he he. Mày lúc nào cũng chỉ thích quai dép biết chó gì bắn pháo cối với chả móc chê. Hai anh em nó cùng cười he he.
Mưa rì rụp hai ngày nay. Hầm chốt nào cũng khoét cái lỗ đọng nước to bằng cái mũ cối cứ vài phút lại đầy nước. Lại lấy cái mũ lính ngụy múc đổ ra ngoài. Vách hầm nước rỉ ra theo rễ cây loang lổ mùi khắm lặm. Anh nuôi mang cơm lên bê bết đất đỏ. Nắm cơm nào may không ướt thì còn màu trắng đục còn thì cơm cũng mầu gạch cua, chỉ một đêm là lên mùi tương Bần. 
Sáng chưa rõ, pháo giặc đã bắn phầm phập vào rừng chuối trước mặt .rồi chuyển làn lên vọt sau trận địa chốt. Thằng Giặc kém thế . Anh Nhớn bảo Tiến thế. Bắn dọn đường mò lên đấy mà. Chuẩn bị đánh đấy. Thằng Tiến nghẹt thở . Bụng căng như muốn đái . Anh Nhớn bảo mày đừng đái ra quần. Kìa nó lên. Anh ấn cái đầu Tiến thấp xuống vừa lúc súng B trưởng rồ lên. Đoành đoành đoành. Anh Nhớn ném liền 2 quả lựu đạn và gằn giọng : 
- Tiến bằn bên trái kìa . 
Thằng Tiến kéo liền một loạt AK. Đầu ruồi súng nấc lên. Có tiếng gào lên ối ôi . u oa . Khẩu B40 của thằng Đàm vạch một cụm lửa da cam thui mấy thằng co cụm phía chân đồi . Chúng nó chạy bỏ lại súng và cả mấy caí ba lô 2 cóc. Mấy cái xác lính lôi nhau xuống chân đồi be bét những lá chuối đầm nước mưa. B trưởng quát, lấy lá ngụy trang hầm đi. Tranh thủ mưa mà chặt cành cho tươi về phủ lại hầm. Thằng Tiến thở hí hóp. Thì ra trận đầu tiên của nó rất đơn giản và nhẹ nhàng. Anh Nhớn bảo, mày không đái ra quần là được. Mẹ kiếp hôm nay mà đánh như kiểu đánh xe tăng địch trên Kon Tum năm ngoái thì đái thật đấy. Đời thằng mục đái ùng ục. he he.
Thằng Tiến cứ ngẫm nghĩ không hiểu sao các anh lính cũ hay cười thế. Nói chuyện tiếu lâm cười đã đành. Pháo bắn xong rồi cũng cười. Nắm cơm thiu gọt vỏ rồi chia nhau cũng cười. Đêm chui rúc trong hầm nằm úp thìa vào nhau lại cũng cười. Ấy thế mà có anh nào kể chuyện người yêu thì há hốc mồm ra nuốt từng lời mà không cười.

Trận địa chốt kéo căng ngang “đồi mắt ngỗng” . Tiến cố tình để ý xem nó giống mắt ngỗng ở chỗ nào. Nhưng từ hôm lên chốt đến nay đã một tháng mà vẫn không thấy mắt ngỗng giống cái gì? Vì sao mà họ bảo đây là mắt ngỗng. HỎi anh Nhớn , anh bảo mày hỏi tao hỏi ai? 
Có một thằng tên Chương bánh sắn ở hầm bên cạnh cùng B trưởng thỉnh thoảng nheo mắt cười với Tiến. Hai hầm cách nhau chỉ hai chục mét nhưng Tiến ít khi sang bên đó. Có hôm Chương bánh sắn bò sang hầm Tiến xin giấy pơ luya cuốn thuốc rê. Nó hỏi:
- Mày đi B bao giờ? 
- Em đi tháng 12 anh ạ. 
Chương bánh sắn nhìn Tiến bảo, may cho mày đi vào mùa khô chứ không thì mờ đời trên Trường sơn. Thằng Tiến cười cười tỏ vẻ đồng ý. Thằng Chương bánh sắn cộc cằn: 
- Lại còn cười, sướng thì cứ bảo là may mắn nên em sướng . Mẹ kiếp bọn tao đi mùa mưa chết sốt rét không kém gì dính bom. Đúng là đời thằng mục.
Tối hôm ấy Tiến hỏi anh Nhớn. Tại sao lại gọi là Chương bánh sắn? Anh Nhớn kể chuyện thì thầm. Mùa mưa năm ngoái cả đơn vị mỗi ngày một người 1 lạng gạo . Còn thì toàn là sắn. Họ giã lát sắn khô đầy bụi đất. Nghe đâu có một bộ phận đào sắn bên kia biên giới rồi chế biến phơi khô chở về cho đơn vị ăn thay gạo. Mỗi chiều tối một thằng một nắm bánh sắn màu nâu non to bằng quả cam sành. Tiểu đội lấy bánh sắn về lúc thằng Chương đang sốt rét. Y tá chui ra khỏi hầm gặm bánh sắn, chắc là y tá đang đói. Thằng Chương cầm cái cặp nhiệt độ mắt đỏ vằn cà thừ, cắm vào cái bánh sắn mồm lảm nhảm:
- Mẹ kiếp xem mày có sốt giống bố mày không nào?
Bóp ! cái cặp nhiệt độ vỡ tung. Thằng Y tá há hốc mồm, miếng bánh sắn rớt nhoét ra đất. Kêu lên: 
- Mày giết tao ròi. Cả đại đội có mỗi cái này đấy mày ơi. 
Đêm hôm đó chính trị viên sộc xuống kiểm điểm thằng Chương. Thằng Chương lúc này hết sốt. Chả biết nó sợ qúa mà hết sốt hay là tại thuốc. Thằng Chương thuật lại tình hình cho cán bộ nghe. Nó bảo:
- Khi tôi sốt tôi sờ vào cái gì cũng cảm thấy nó đang sốt. Báo cáo thủ trưởng tôi cầm cái dép cũng thấy cái dép đang sốt. Tôi sờ vào báng súng cũng thấy súng nó sốt. Tôi nghĩ thử xem cái bánh sắn nó sốt thế nào. Tôi nhìn cái vạch thủy ngân chay vùn vụt rồi bóp một phát. Nó lau nước mắt nói tiếp:
- Đi làm cách mạng nhưng tôi làm hại cách mạng . Thủ trưởng phạt tôi thế nào cũng được. Đuổi tôi về miền bắc tôi cũng chịu. 
Cán bộ vừa tức vừa buồn cười. Cuối cùng là thằng Chương bị khai trừ Đoàn TNLĐVN . 
Thằng Tiến toát mồ hôi. ÔI chao khai trừ đoàn thì tội to lắm. Anh Nhớn bảo , chứ lại chả to. Cả một đại đội có một cái cặp sốt mà nổ mất rồi thì cặp sốt bằng rút dép à? 
Đêm ấy thằng Tiến thao thức không ngủ. Nó thấy thương anh Chương, bất giác tay nó nắm phải cây rút dép trong túi .

****
Trời mùa mưa Tây Nguyên lúc nào cũng xin xỉn màu nước rau khoai lang. Tiến nhận ra điều này từ hôm lên chốt. Mỗi ngày một người bò đi tìm thức ăn. Chủ yếu là hoa chuối và rau khoai lang trên các rẫy bỏ hoang vì bom đạn. Khiếp, có một cái ăng gô nước rửa đến vài kí rau khiến nước rửa rau đặc quánh như dầu ma dút. Ấy vậy mà luộc lên thơm ngát mũi. Nước rau đục lờ lờ hệt màu trời mưa Tây Nguyên. Một hôm anh “Chương bánh sắn” sang hầm Tiến. Anh Chương xin quai dép của Tiến. Thằng Tiến mở cóc ba lô lấy cuộn dây dép còn nguyên dây buộc bằng sợi dây chỉ dù tẩm cao su. Chương bảo, quí lắm đấy nha mày . Dép tao đi lâu năm nên quai hết bom bê dễ tụt lắm . Thằng Tiến cắt một đoạn dây đưa cho anh Chương, Chương bánh sắn rút cái quai dép bèn bẹt nhão nhoét ra rồi mặm môi thay quai mới. Cái quai cũ Chương đút cẩn thận vào túi. Ròi Chương kể, có một đêm địch lên tập kích. Một thằng trong bê mình bị thương đưa vào hầm tối om không biết vết thương ở đâu mà băng. Chỉ thấy máu chảy đầm đìa. Chương lật dép , cắt khúc thừa dưới đế một quai dép chừng ba phân, rồi đốt lên tìm vết thương mà băng bó cho đồng đội trong lúc mấy thằng khác lấy ni lông che kín cửa hầm không cho ánh sáng thoát ra. Đêm ấy thằng Tiến lại ngửi thấy mùi quai dép thơm kiểu thành thị , Trời dậm dựt mưa, hết ca cảnh giới chui vò hầm nhóp nhép mà nó chả ngủ được. Nó mong ngày nào về quê nó sẽ có một đôi dép cao su thật oách tặng cho bố nó , Nó sờ sờ caí bật lửa tàu trong túi và nghĩ, cả cái bật lửa này nữa để cho bố đi cày mà hút thuốc lào.
Hôm sau thằng Tiến lật cái dép cao su lên. Ừ nhỉ cái phần dây cao su thừa dưới đế dép dài đến 3, 4 xăng ti met. Ôi thì ra cái để cứu sống một con người nếu không băng cầm máu lại đơn giản không tưởng đến thế ư? Là nhờ cái đoạn 3 xăng ti dây dép đốt lên để tìm chỗ băng vết thương. Chuyện cái dép cao su không còn là cái dép nữa rồi. Thảo nào bộ đôi ta yêu dép đến thế. 
Một năm sau. Thằng Tiến lên A phó. Bây giờ chốt mắt ngỗng giao cho đơn vị khác. Tiểu đoàn của Tiến quay về tác chiến mạn đường 15. Lúc ấy cũng lại mùa mưa. Địch hành quân bằng ô tô còn bộ đội ta thì đi chân đất. Bùn ba zan đến cổ chân. May mà dép cao su của ta tuyệt vời và nhất là lứa quân mới một năm chiến trường dép không bị tụt quai . Nhiều hôm hành quân qua suối ngồi nghỉ là Tiến lại kì cọ đôi dép của mình . Và sau khi lớp bùn đất đỏ tuột đi là cái mùi thành thị lại thơm nức lên .Tiến nghĩ sao lại thế nhỉ? Bố khỉ.
***
Trận đánh đồi Củ Lạc của d8 hôm ấy diệt được cả xe tăng. Bọn lính e53 bỏ lại vài chục cái xác và một tên lính bị bắt sống. Thằng lính này khai, em là lao công đào binh. Tiến nhìn nó có dễ đến ngoài ba mươi. Anh Nhớn hô : Tiến trói tên này lại. Xử lí khẩn trương lên để rút kẻo máy bay nó đến đốt trận địa bây giờ .
Tiến vội quýnh lên. Chợt nghĩ cuộn dây dép dàì hơn mét trong cóc ba lô. Tháo ra troí chân tên tù binh. Trói xong rồi nó khóc , Ông ơi ông nới cho tôi, tôi sắp chết rồi . chân tôi tụ máu …. ừ nhỉ dây cao su xiết chặt đến nỗi tên tù bình thở khò khè . TIến tìm quanh quẩn kiếm dây rừng. Người tù binh bảo ông ơi trong bao đồ của tôi có dây dù ông lấy ông trói hộ tôi.. Tiến vội móc bao đồ tên lính có đoạn dây võng liền trói tay nó và tháo dây cao su ở chân nó ra. Lính ta kêu , anh Tiến rút thôi. Người lính nhìn Tiến như cầu khẩn tuyệt vọng. Xử lí tên tù binh này thế nào? Bắn à? Hay thả. Thả nó mình lại bị kỉ luật. Người lính VNCH mặt đờ dại gần như mê muội. Tiến đến gần tên lính hỏi: 
Chân hết tụ máu chưa? Chạy được không? Tên tù binh gật gật. dạ dạ. 
Tiến khẽ nói, vậy tôi trói tay anh và anh chạy về phía bên kia đường khi chúng tôi đã đi rồi nghe chưa. Nói rồi Tiền chỏng AK lên giời bắn đoàng đoàng. Tên tù binh nhắm mắt lại gục đầu xuống. Rồi nó mở mắt nhìn Tiến nước mắt ứa ra.. 
Tiến vác khẩu AR15 và cái ba lô lính VNCH lên vai rời khỏi trận địa. Lúc ấy một cơn mưa ập tới . May . Thế là không có chiếc tàu bay nào tới thả bom. Pháo địch ì ùng nổ ở trận địa vừa xong. Tiến nghĩ giờ này tên tù binh đó cũng chạy thoát rồi.

Năm sau nữa thì giải phóng. Trung sĩ Tiến ra quân về đi học cấp 3 để đi thi đại học. May mắn nhất là cuộn dây dép chỉ mất một đoạn cho hai quai dép thôi. Cái bật lửa tàu thì sứt sẹo nhưng bánh xe vẫn rất tốt. Bật một phát là ra lửa xanh lè. Cho đến bây giờ ông “Tiến thép” vẫn có thú đi dép cao su. Nhiều lần ông vẫn kể với nhân viên là mùi dép cao su là mùi rất chi công nghiệp. Đêm đêm ông vẫn hú hồn cái vụ thả tù binh không ai biết. Nếu biết dễ chừng ông lại bị khai trừ khỏi đoàn TNLĐ VN vì lúc ấy ông chưa vào đảng .
16/11/2018