Friday, December 8, 2017

Hàng cây cũ ở trường xưa




Về đi dưới hàng cây
Nắng mềm ở vòm lá 
Có bạn gọi ta là ông già ka chín a đấy hả
cười rung biếc má đầu đông

Con đường này chúng tôi trồng cây đã hơn bốn mươi năm
Cây không già mà chúng tôi vẫn khỏe
Người nhiều tuổi và cây thì cổ thụ
Đừng gọi chúng tôi và hàng cây ấy đã già

Sớm nay nhớ tên người bạn gái ở rất xa
Một thuở quây rào cây non loe loét đất
Bạn ve vuốt mềm mềm từ lấm bết
Cái dốc này mang tên một chi đoàn

Chúng tôi đói ăn
Bếp Sinh viên dọn vệ sinh rất chóng 
Bụng người lưng lửng
Múc nước tưới lên những gốc sà cừ
Nhặt cỏ dưới gốc phượng ưu tư
Cười vang cầu chinh bay đi bay lại
Kí túc xá bạn gái 
Đèn sáng thâu đêm

CHúng tôi về thăm 
Chả có cái gì lạ cả 
Nhưng tất cả mái trường xưa thì rất mới 
Mới như tôi chưa từng gặp bao giờ

Thầy Hiệu trưởng xưng em với chúng tôi những học trò xưa
Sao thấy cay cay khóe mắt
Tôi ngửa mặt nhìn lên hàng cây bốn mươi năm ươm vào đất
Một cõi nguyên Cơ Điện của tôi ơi.

Vòm lá xanh con dốc sỏi một thời
nương tôi vào gập ghềnh mơ ước
bạn có lan man miền phây búc
Muốn hiểu tôi
Hãy gõ vào tên trường đại học của tôi .
Hà nội 7/12/2017

Ta đi về lại chiến trường xưa




Đi bạn ơi mình đi dù có muộn
Thăm lại bạn bè một thủa đôi mươi
Ngày nhập ngũ ngơ ngác tìm bạn gái
Hẹn ngày về lời hẹn đã hoa râm

Đâu căn hầm xưa mình đã từng nằm
Đêm pháo kích lòng đất rung bần bật 
Cánh rừng muỗi lịm vào cơn sốt 
Nay có còn tán lá chở che không ?

Những tấm hình nhỏ chỉ tựa con tem 
Theo mình đi biết bao mùa chiến dịch 
Giữa cuộc hành quân chuyện người yêu rúc rích 
Đêm Trường sơn thao thiết nhớ một người

Ta đi tìm nhật kí tuổi hai mươi
Nét xấu hổ gửi yêu vào trang giấy 
Thư bạn gái ướt bao lần ngực áo 
nghe như tim mình tim bạn rộn vào nhau

Đâu bản làng mình đốt lửa đêm thâu 
Bám địch đói run hai mùa xuất kích 
Đâu con suối chiều giao liên khúc khích 
Lính trẻ ngồi tưởng tượng nhớ bâng quơ

Chúng mình đi tìm góc phố ngày xưa 
Cờ đỏ một thời long lanh ánh mắt 
Những người lính rừng về xuôi ngơ ngác
Em gái áo dài có thương sắc rừng xanh

Sao buốt lòng tìm bạn ở nghĩa trang
Cùng lớp cùng trường vẫn lang thang sương gió 
Bia mộ trắng như một trang sách mở 
Tóc bạc nghiêng đầu nước mắt nghẹn khói nhang

Bia bọt mãi lời hẹn hò day dứt
Những chiến binh canh cánh phía rừng già 
Ta đi nhé dẫu rằng đi có muộn 
Trả nghĩa với đời ta về lại trong ta
Tháng 7/10 NTL

Cúc họa mi không tuổi


Chỉ là người có tuổi thôi
Chỉ là núi biếc nói lời già nua
Chỉ là nắng chỉ là mưa
Mùa lên thành hạt gieo mùa thành hoa

Này là hát này là ca
Bao nhiêu sướng khổ thốt ra thành lời
Bao nhiêu tinh túy đất trời
Một ngày kia nở cho đời thành hoa

Những là miếng mẹ miếng cha
Những cao sang những lê la cõi thường
Người ta ví bởi yêu thương
Hoa nào cũng chỉ mùa màng nhân gian

Giàu hoa giàu cả lụi tàn
Chỉ em về tiết thu hàn heo may
Bãi sông hờ gió lắt lay
Họa Mi áo mỏng thân gầy mà thương

Những là heo hót bờ sương
Trắng vào cả những môi hường rau dưa
Người ơi ra bãi bây giờ
Để em theo với đi về trong đê

8/12/2017

Friday, December 1, 2017

Cầu Ngòi Sen và dốc Ót


( lại nhớ trường cấp 3A Yên Bái 50 năm về trước)
Ở chỗ tiếp giáp 2 tỉnh Yên Bái và Phú Thọ dọc theo sông Hồng có một ngọn núi cao nhòi ra sông. Để vượt qua nó là cái dốc cao dài đến hơn hai cây số có 3 vòng cua gọi là 3 quanh. Cái dốc 3 quanh này gọi là DỐC ÓT.
THời ấy dốc Ót đầy những cây hu bét lá xanh mặt trên trắng như phấn mặt dưới. Mỗi cơn gió thổi lá rừng lật lên trắng xóa, gió ngưng lá cụp xuống rừng lại xanh. Nhìn từ xa cánh rừng cứ xanh trắng đổi màu theo gió. Dốc Ót có bao nhiều chuyện rùng rợn li kì . Toàn là chuyện ma chuyện cướp đường. Với chúng tôi dốc ót là trọng điểm ném bom của tàu bay Mĩ những năm 66, 67 của thê kỉ trước. Là nơi dễ sợ mà cũng là nơi thật nhiều kì thú .
Ngay dưới chân dốc ót là cây cầu Ngòi Sen. Cầu này ở chỗ hiểm yếu dài chỉ chừng hai nhăm mét. Đứt cầu là đường sắt Lao kay Ha noi tê liệt ngay. Suốt mấy năm ấy phi công Hoa kì ném bom toàn vào dốc ót chứ không trúng cầu. Bom nhiều đến nỗi rừng lau trên dốc ót cháy vàng ươm. Cháy ngày này qua ngày khác. Bố mẹ chúng tôi nhìn ngọn đồi cháy mà thương các con đi học ở trường C3A thị xã YB ngày 2 lần qua đó. THương vậy thôi chứ các cụ vẫn phải ra đồng cày cấy còn chúng tôi vẫn chân đất ngày ngày chạy qua cầu ngòi Sen đến trường.
CHỉ có điều bố mẹ chúng tôi không biết rằng chúng tôi rất thích trong điểm ném bom này của thằng giặc Mĩ. Ngay dưới chân dốc ót kế bên cầu Ngòi Sen là một đồn điền quýt cam và bưởi. HTX quản lí và giao cho các ông bảo vệ HTX trông coi cái đồn điền dài đến hơn ngàn mét rộng đến bốn trăm mét rồ rộ quít cam. CHịu chả biết là từ bao giờ có cái vườn quít khổng lồ này. Về hỏi bố. Bố bảo, đấy là đồn điền Tanh Bua thời Pháp . Tanh Bua là ai? Bố bảo, học lên rồi thì biết. Chuyện dừng ở đó. Tanh gì thì tanh cứ hàng ngày có quít ăn có chỗ vui như công viên là thích rồi.
Cuối tháng 11 năm 1966. Rét. Lũ học trò đi cưn rưn. Chả đứa nào có dép. Chân chim tòe năm ngón trên đường tàu hỏa. Chúng tôi đi trên đường tàu hỏa cho gần nhất khỏi phải chèo dốc Ót. Chỉ khi nào hết đường sắt là dấu chân của chúng tôi lại dẫm bùn tòe năm ngón về phía ước mơ. Một ngày sau đận tết trung thu năm 1966 chúng tôi hẹn nhau đi sớm trước khi máy bay Mĩ đến. Sương ướt và lạnh. Cả lũ chui vào vườn quít hái thoải mái cho đầy các túi, cho cả vào ruột tượng đựng gạo . Giữa trời lành lạnh bóc quýt ăn giọt nước tràn mép chảy xuống cổ mát thon thót. Cuối năm ấy những cây bưởi quả vàng ươm . KHỉ nỗi chỗ nhiều vây bưởi quả to vàng lại là chỗ gần cầu Ngòi Sen túi bom. Sự lấy bưởi như một trận đánh ác hiểm. Đứa nào cũng hăm hở cũng thích . Chúng tôi hẹn 5 giờ chiều tắt nắng sẽ về ngang đồn điền Tanh Bua lấy bưởi . Chiều ấy cả lũ bê bưởi ra đường tàu hỏa bổ ngay trên trên đường và ăn luôn tại chỗ . Bưởi ngon đến tê mê. Làng tôi nhiều bưởi nhưng bưởi ngon thế này thì đây là lần đầu tiên chúng tôi được ăn. Mỗi đứa xơi hai ba quả rồi kéo nhau về. Trời tối con đường sắt chạy dọc theo sông Hồng hiền lành cóc cáy.
Năm 1967 là năm máy bay Mĩ tàn phá vùng tôi ác liệt nhất. Cái cây cầu Ngòi Sen gọi là tử địa là Cồn Cỏ là Vĩnh Linh. Chúng tôi không còn đi qua đồn điền Tanh Bua đến trường mà đi đường khác, đi xuyên trong rừng trong dộc đến trường. Đầu năm 1968 ngừng ném bom chúng tôi lại trở về con đường sắt qua dốc Ót. Lại một chiều sương lạnh chúng tôi nắm tay nhau đi đên khúc đường tàu hỏa kế bên cầu Ngòi Sen. Nơi chúng tôi ngồi bổ bưởi ăn năm trước giữa lòng đường sắt có hàng chục hàng trăm cây bưởi con cao như cái đũa mọc xanh thẫm chi chít từ đá đường tàu. Thì ra những hạt bươi chúng tôi nhả lên lòng đường đã nứt thành cây con. Những cây bưởi lớn lên nhưng không cao được vì tàu hỏa chạy trên đường không cho nó nhớn . Cả tùm cây bưởi con lá búp cứ nhọ nhem vì vết tàu chạy qua đè nó xuống. Cả lũ học trò thờ thẫn nhìn những cây bưởi non . Rồi chúng nó òa lên, ôi thằng Cư ăn nhiều nhất . Thằng Chương chỉ chỗ hàng chục cây bưởi non mọc thành một bụi. Nó bảo chỗ này là chỗ thằng Hiến và thằng Cư ngồi. Tôi và Chương cũng nhận ra chỗ ngồi của mình ở đó những cây bưởi non lạnh lùng xanh và cưn rưn trong gió lạnh . 
Cả lũ chúng tôi bỗng im lặng nhìn chỗ thằng Hiến thằng Cư ngồi nơi có nhiều túm cây non mơn mởn . THằng CƯ đã thôi học năm ngoái và năm ngoái cũng là năm Thằng Hiến lên đường nhập ngũ . Nghe đâu nó đã kịp vào đánh Mậu Thân trong Huế. 
Tròn năm mươi năm sau. Chúng tôi trở về cầu Ngòi Sen. Cái đồn điền Tanh bua tan hoang thành nhà máy gạch tuy- nen. Dốc ót vẫn hoang vu bàng bạc như cũ thấp thoáng những cái lều của người làm trại trên đồi. 
Tôi nghe nói giống bưởi ngọt ở đồn điền Tanh Bua bây giờ ở vùng này nhiều lắm.

6/11/2017 

BỐ TÔI LÀ THẦY GIÁO

Chuyện cuối ngày 20/11

Bố chỉ làm thày giáo cấp 1 có 9 năm. Từ 1958 tới 1967. THời tây bố học cấp 3 Hùng Vương khi trường tản cư lên Văn Bán Cẩm Khê. 
Ngày ấy ông nội bán cả gò cọ gò chè bố mới đi học được. 1953 đang học lớp 8 bố bỏ về đi Điện Biên phủ. Là dân công Điện Biên thôi nhưng bố tự hào lắm. Lúc còn bé nghe bố kể Mường Phăng, Cò Nòi, Lũng Lô, Hát Lót …nghe quen đến nỗi cứ như dốc Pha Đin ở ngay làng mình. Bố đi Sư phạm bố đánh bóng chuyền đội tỉnh. Bố hát Cải Lương hay. Bố đi tàu về Hà Nội thi vào Chuông Vàng . Thi xong, Lúc ở tàu ngược về nhà ông nội đón sẵn cầm đòn sóc vụt bố. Bố bỏ mộng làm văn công. Bố đi học Sư Phạm làm giáo học. Ông nội mừng lắm. 
KỈ niệm về ngày bố làm giáo học với tôi là những tối bố soạn bài, chấm bài và bố làm giáo cụ trực quan. Lương giáo học của bố 33 đồng. Cuộc sống sau ngày vào Hợp tác xã khốn khó. Công điểm HTX mẹ lo tất tần tật. Bố cứ như cái cây đứng giữa vườn cho chim cò đậu. NHững ngày máy bay máy bò giặc Mĩ càng túng quẫn. Bố thắt ruột nhìn đàn con nheo nhóc không đủ áo mặc đến trường không đủ tiền đóng học. Bố xin về làm nông nuôi anh em tôi. Kể từ năm 1967 cái cặp đi dậy học của bố đựng toàn những công văn Ban Quản trị HTX trong đó có một cuốn học bạ của bố thời xưa toàn chữ Pháp.

Tôi chưa từng biết một lần Hiến Chương nhà giáo nào với bố. Bởi có nhẽ ngày xưa không phải là bây giờ. Nhưng tôi nhớ đời, bà con các xã lân cận gọi tôi là con thầy giáo Dụng ở Đan Hà.
Ngày tôi đi đánh Mĩ hành quân qua Trường sơn, một hôm đến binh trạm 12 nghe nói trạm này có người Hạ Hòa PHú Thọ tôi mò vào trạm hỏi thăm. Thì ra anh ấy là y tá ở xã bên kia sông quê tôi. Tôi kể, em người Đan Hà . Anh y tá hỏi , thế mày có biết thày giáo Dụng Đan Hà không. Tôi không dám kể với anh ấy là tôi là con thầy giáo Dụng. Anh ấy cho dúm đường và tí mì chính dặn đi đứng cẩn thận lo sức khỏe chiến đấu rồi mà về em nhé. Chia tay anh ấy rồi. Ra suối. Tôi òa khóc. Trong một chiều Trường sơn, ngồi gục bờ suối vắng lặng. Tôi gọi bố ơi .

Cuối ngày 20/11/2017

Những xúc động vụn vặt

Những xúc động vụn vặt
( tên sách)

Làm sao ta sánh với giang hồ
Bữa nào ta cũng nhớ ngày xưa
Ta đi chân cũng lầm bụi đỏ
Gió cao nguyên lồng lên ngẩn ngơ

Ta ra khỏi cửa vợ nhìn theo
Đêm khướt ta lưng chừng núi đèo
Quờ cả vào eo chai rượu núi
Có tiếng người xa tiếng rất yêu

Sông thế thôi mà mây cũng thế
Tay nải nào có những gì đâu
Nghe tiếng súng xưa trong mơ tưới
Bật mồm hát khúc dạ phiêu diêu

Oanh liệt cách chi buồn vụn vặt
Thời nay gái bảo thủa a còng
Ta bảo ngày xưa giang hồ vặt
Vợ cũng buồn gái cũng chả mong
21/11/17

VỀ VỚI NHAU Ở TẤM BIA NÀY ĐỒNG ĐỘI ƠI


Về đi các anh ơi
Gọi nhau khản tiếng rồi
Cha mẹ không đợi được nữa
Sao dùng dằng mãi ? hay rong chơi trên Ngọc Rinh Rua thông non nức nở
Dưới kia Pô cô hết cạn lại đầy

Sác li, Đen ta đốt cháy cuộn trời
Trai tráng sư đoàn không xuống núi
Em ở Rờ kơi đợi nhau mấy chục năm không trở lại
Ngọn Sa Thầy lốm đốm lửa Pơ lang

Lính sư đoàn về thăm
Ngơ ngẩn dưới chân 1015 đàn gà bới đất
Bới lên bi đông có con chim xinh đang khóc
Tên một sư đoàn

Đừng đếm số người nằm lại cuối mùa hoa pơ lang
Đừng đếm xác đối phương tháng Tư năm ấy
Rừng thông cũng đã già từ độ ấy
Miếu thiêng khô khốc đỉnh trời
Ơi 1015 ơi
Ơi 1049 và bao nhiêu cái tên cứ nổi lên chìm xuống
Giống như mùa khô mùa mưa
Giống như màu hoa dại Dã quì
Vàng rồi tàn lụi.
Sông Pô cô đầy vào những bức tường thủy điện
Nước hùa ngâu ngấu lạnh hồn nhau
Bạn bè nằm đâu nằm đâu
Súng nát mà hoa vàng đến thế
Mùa này Chư mom ray bụi cũng mù lên mắt đỏ.

Tên một sư đoàn
Tên của nhiều sư đoàn
Khoác áo rừng hoang
Dã Quì dệt bằng linh hồn trai tráng
Rừng xanh không tĩnh lặng
Chỉ những người bạn tôi nổ súng rồi lặng im
Ngắm nhìn mùa nương có những cô gái ngực cong nâu trỉa lúa
Ngắm nhìn mẹ địu con lên núi lúc mặt trời chưa kịp lên
Bốn phía là những cái tên cao điểm
Lãng quên.

Ngày mai chúng tôi bám nhau cõng bia lên núi
Lưng chúng tôi già bia liệt sĩ thì mới
Cõng lời khóc ướt mùa khô
Các anh ơi hãy về
Tựa vào tấm đá này nóng ấm
Tên một sư đoàn
Tên một vùng đồng đội
Tựa vào nhau kể chuyện quê hương đổi mới
Kể chuyện làng cũ trường xưa
Kể chuyện đứa nào lên ngựa lên xe
Giữa một vùng đỉnh cao hoang vắng

Các anh ơi hãy về
Ta tựa vào đồng đội
Mặt trời cũng về
Tựa vào dáng núi
Sáng 23/11/2017