Tuesday, September 3, 2019

Những ngày đầu giải phóng Sài gòn

Lâu nay khi kể về ngày đầu tiên giải phóng Sài Gòn tôi ít kể tới chuyện tôi đã gặp những người đầu tiên ở Sài Gòn thế nào, cảm giác của tôi ra sao với người Sài Gòn. Thời gian đã qua đi gần nửa thế kỉ nhưng những người tôi gặp trong ngày 30/4 và sáng 1/5 ở Sài gòn thì tôi nhớ rất rõ và chuyện mới như ngày hôm qua. 
Trưa 30/4 / 1975. Sau lúc quân ta đã cắm cờ trong dinh Độc Lập, tiểu đoàn tôi daỉ quân dọc đường Phan Đình Phùng và đường Trần quí Cáp cổng trường Lê Quí Đôn . . Tiểu đội trinh sát của tôi đóng lại tại căn nhà 162 Phan Đình Phùng của một Luật sư tên là Lê Tất Hào đã di tản.( Tôi nhớ vậy là ở cửa có cái biển đồng ghi như thế)
Đêm 30/4 bình yên , thành phố thật đẹp và mát mẻ. Đêm ấy Sài Gòn chỉ những là bộ đội . Đêm ấy tôi cùng tiểu đội lấy được 5 cái xe con dấu vào nhà thi đấu Phan Đình Phùng bây giờ. Không hiểu sao bọn tôi lại phát hiện trong trung tâm thể thao này có một kho gạo. Loại gạo ngon đặc biệt. Tôi báo cho trung đoàn và tôi nhớ là trung đoàn đã vận chuyển số gạo này về Củ Chi . Trung đoàn 64 trong những tháng đầu giải phóng chỉ ăn một thứ gạo ngon đặc biệt. Nghe đâu đến tháng 9 là hết. Tuy vậy Sư đoàn cũng không hề biết. 
Sáng hôm sau. 1/5 từ mờ sáng đã xuất hiện từng đoàn học sinh sinh viên cầm cờ trên tay đi khắp mọi đường phố hô vang những câu khẩu hiệu chào mừng giải phóng. Dọc các đường phố các chú bộ đội trẻ măng mặt mũi lấm lem ngây ngô đứng nhìn các thiếu nữ xinh đẹp trên đường. Sáng ấy tôi mải mê ngắm thành phố sau một đêm gần như thức trắng viết bài hát " Chúng con hát tên Người thành phố Hồ Chí Minh" tôi ra ban công nhìn thành phố rợp cờ hoa. Bên phải ngôi nhà tôi ở là tiểu đoàn bộ ở. Các cô gái quần Jaen áo pul vây quanh mấy thằng anh nuôi D bộ. Họ hỏi nhiều lắm mà các lính ta chỉ gãi tai. Tôi chạy xuống nhà nghe thấy các cô gái hỏi ; anh ơi anh học lớp mấy? anh ơi anh có biết bài thơ Bến My Lăng không? Anh ơi anh có đọc " Lá ngọc cành vàng" chưa? Có người ra hiệu cho cô gái vừa hỏi. Cô ta vội hỏi lại , à anh ơi anh ở Hà nội có đọc Hemingway không? Chết cha rồi họ cứ tưởng bộ đội ta cái gì cũng biết. Tôi đoán ngay đây là sinh viên đại học. Tôi bước ra cửa . Chúng nó ồ lên, kia kìa các cô hỏi thằng kia kìa. THế là họ bu lại tôi. May mắn ba năm học đại học trước khi đi lính mình cũng đọc nhiều sách nên trả lời không đến nỗi. Nhưng có điều tôi không để ý là ở bên số nhà 160 Phan Đình Phùng có hai người đàn ông đứng nghe chúng tôi trò chuyện với các sinh viên . . Khi đám sinh viên đi rồi thì tôi cũng vội vã chuồn ngay với thằng Sỹ ( Dinh Ngoc) ra cửa Hạ viện chụp ảnh. 8 giờ sáng quay về nhận lệnh lên Trung đoàn ( đóng trong trường Lê Quí Đôn ) nhận nhiệm vụ giao lưu với giáo viên học sinh trường Lê Quí Đôn cùng 3 anh giáo viên cấp 3 là lính trung đoàn tôi.
Chiều ấy tôi đứng ở cửa nhà 162 , một ông già chừng ngoài 50 tuổi bên nhà 160 rụt rè nói . Tôi mời anh sang nhà tôi sơi nước. Tôi ngước nhìn tấm biển trên cửa nhà có chữ BÁCH KHOA . bên dưới là ghi dây nói .. trị sự gì gì đó mà tôi ít hiểu. Ngó quanh không thấy ai tôi mới mạnh dạn bước vào nhà. Trong nhà có một người đàn ông nữa áo quần rất tươm tất và một bà chừng là chủ nhà. Ông Chủ nhà nói: - Thưa quí anh. Tôi vội nói luôn bác cứ gọi cháu là cháu . Bố cháu chắc ít tuổi hơn hai bác. Hai ông già nhìn nhau rồi thân thiện hơn. Ông chủ nhà nói:
- Tôi là Lê Ngộ Châu chủ bút tạp chí Bách Khoa . và đây là anh Nguyễn Huy Nhân quản lí HC tòa soạn. Sáng nay tôi có nghe anh nói chuyện với các cô sinh viên sài gòn tôi đoán anh có học hành chi đó hả? Tôi trả lời luôn, dạ vâng cháu học hết năm thứ 3 đại học Bách Khoa mới đi bộ đội . Lúc này thì họ nhìn nhau và hỏi, thế anh là cấp gì chứ? Tôi cười cháu là chiến sĩ thôi . Cả ba người đều ngạc nhiên. 
Ngày hôm sau. 2/5/1975 tòa soạn Bách Khoa có đông người đến. Ông Lê Ngộ Châu lại sang mời tôi sang uống nước. Ông chỉ vào một người nhỏ không mập giới thiệu với tôi, đây là anh Lê Văn Trung. Chỉ vào một người mập hơn giới thiệu đây là nhà văn Vũ Hạnh . Rồi có một người trẻ tuổi đưa cho tôi cái danh thiếp ghi tên Lê Văn ĐỊnh. 108/3 Đồng Tâm 1 Gò Vấp. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy cái " cạc vi dít " là ở đây. 
Có một điều rất vui. Bà vợ ông Lê NGộ Châu một hôm chứng kiến tôi gọt mướp và nhặt rau giúp anh nuôi thuần thục nhanh nhẹn thì nể quá. Ông Châu hỏi tôi, anh ghi họ tên anh vô tờ giấy này cho tôi được không? Tôi vui vẻ viết tên mình và cả quê Vĩnh PHú nữa . Ông ấy nói tôi cũng ở Vĩnh Phúc Yên đây. Rôi ông khen, chữ anh quá đẹp. Bộ đội bắc việt thật tuyệt. 
Ngày 3/5 Ông Nhân phụ trách hành chánh tạp chí Bách Khoa ngỏ ý đưa tôi về nhà thăm nhà cho biết nhà. Tôi đeo cả súng ngồi lên chiếc xe BC của ông về tận Phú Nhuận. 
Chỉ tiếc chúng tôi ở trong Sài gòn đến 6/5/75 là rút về CỦ Chi. Sáng hôm lên đường rời Sài gòn. Xe chúng tôi dàn hàng trên phố Phan Đình Phùng ( bây giờ là Nguyễn Đình Chiểu) Ông bà Lê Ngộ Châu ra tận xe đưa cho tôi một gói như một cái khăn nhỏ . Ông bà nói khẽ cháu mang ấy chỉ vàng đi mà tiêu dùng.. Tôi cúi đầu cám ơn và nói rằng như vậy cháu bị kỉ luật nhà binh đó. Ông Lê Ngộ Châu rụt tay lại . Xe chạy, ông bà Lê Ngộ Châu và ông Nguyễn Huy Nhân vẫy tay mãi . Vậy là Sài Gòn với tôi xa từ hôm ấy. Sau này tôi có nhiều dịp quay trở lại đây công tác, tôi thường đến khúc phố này ngắm nhìn những cây Long não , cổ thụ và những ngôi nhà xưa cũ và nhớ tới những người dân Sài Gòn xưa với biết bao thương mến trân thành. Những người Sài gòn lần đầu tiên tôi gặp và suốt đời tôi nhớ
6/5/1975 

Tạm biệt ông bà Lê NGộ Châu và ông Nguyễn Huy Nhân , tạm biệt " tạp chí Bách Khoa" Xe chúng tôi chạy từ Phan Đình Phùng ra đường Lê Văn Duyệt ( SG) rồi chạy ra Bảy Hiền. Tiểu đội tôi đi xe riêng. Tôi ngồi trên cái xe "Đốt " thằng Tiến US lái . Thằng Ngô Thịnh chạy một cái zeef A2 , Còn thì mấy cái xe khác đã tẩu tán ra Tân Phú Trung được hai hôm rồi. Tài xế của tiểu đội tôi mới học lái từ hôm 29/4 đến hôm nay là 7 ngày. Xe chạy ngòng ngoèo có lúc leo lên vỉa hè rồi lại tụt xuống thản nhiên như không. Thế mà chả đâm vào ai. Vì dân tình nhìn thấy bộ đội chạy cả trăm xe họ đã dạt ra rồi. Trưa ấy lên đến Tân Phú Trung cả trung đoàn hạ trại . Tiểu đoàn tôi được lệnh triển khai 1 đại đội bộ binh , 4 khẩu cối 82 vây ấp Bầu tre vì dân báo là có chừng hơn đại đội địch tụ lại trong bàu tre. Tôi và 2 trinh sát là NGô Thinh và Nguyễn Minh dẫn đường cho c6 lội chừng hơn km . Tôi chỉ mục tiêu , lão Đán C8 cho mỗi khẩu cối 82 bắn 6 quả . Bộ binh bắn vài quả B40 bốc lửa trong lùm tre rồi rút. Chả biết có thằng địch nào trong đó không, chỉ thấy cò vạc bay tung tóe. Chán đánh nhau lắm rồi. 
Tối ngủ lại ở trường tiểu học Ấp Chợ . Tiếc ngẩn ngơ vi mình có tập họa báo toàn ảnh gái Mỹ cởi trần dấu trong ngăn bàn học trò (vì sợ dính kỉ luật) . Thế mà thằng nào nẫng mất. Cấm không dám kêu. 
Ở đây 4 ngày rồi mới về Sư đoàn trong căn cứ Đồng Dù. . 
Bốn ngày ấy sinh ra bao nhiêu chuyện với A trinh sát của mình. Bắt đầu là mất cái xe Đốt, sau đó là mất khẩu AK . May mà hồi đó súng ống quá nhiều, mình xin được một khẩu AK mà địch nó bắt tù binh ta nó trưng bày trong Đồng Dù. Những súng này lại do nhà văn Khuất Quang Thụy bây giờ coi giữ. Xin hắn được súng rồi lại phải tặng một an bum nhấp nháy cho lão Cơ quân khí tiểu đoàn để lão thay số súng . Thế là xong.

****
.......

Chúng tôi trở lại Đồng Dù vào ngày 10/5/1975. Thực ra chỉ có trung đoàn tôi trở lại đây muộn như thế còn các E 48, E9, E54, trung đoàn công binh 7 và các đơn vị trực thuộc cùng sư đoàn bộ đã ở đó ngay từ ngày đầu tiên giải phóng. Vì đi phối thuộc với Sư đoàn 10 đánh vào Bộ TTM VNCH nên Trung đoàn tôi mới có cơ may đánh tới dinh Độc Lập rồi ở đó tới ngày 6/5 thì kéo về đội hình ở Củ Chi cách Đô Thành 30 km. Chiều 6/5 đến Tân Phú Trung thì dừng lại tổ chức trận tập kích truy diệt bọn tàn binh chừng trăm tên trong ấp bàu Trâm .
Khi về tới Đồng Dù phải qua ba bốn lần chuyển quân trong 2 ngày trời mới điều chỉnh xong vị trí. Khiếp , căn cứ cũ của sư 25 "Tia chớp Nhiệt đới " rộng quá. Những 8 ki lô mét vuông bằng đúng khu gang thép Thái nguyên thời ấy. Điện nước trường trạm đủ... tận răng. Vườn hoa cây cảnh xanh ngời. Các con đường trong căn cứ trải nhựa như phố xá. Tôi lại thấy ở đây rất nhiều những lùm hoa Giấy thứ hoa cánh nhỏ mong manh đỏ rực dưới nắng. Ở rừng mới về, sống trong một khu lính Mỹ cũ nhìn cái gì cũng lạ cũng thích cứ như mình đang sống ở nước ngoài vậy. Mãi về sau này càng nghĩ càng thấy mình ấu trĩ vô cùng. Chả cứ gì lính, đến mấy ông cán bộ cũng tò te trước các trang thiết bị quân sự hiện đại, trước tiện nghi dân sự tân kì. Việc làm được đáng “ nể “ nhất của lính là phá phách những đồ dùng sang trọng mà không phù hợp với đời sống chiến đấu , sau nữa là vất bớt tủ giường sa lông .. thậm chí cả quạt điện cũng không được dùng riêng . Thu gom lại cả hàng đống quạt bàn nộp lên E , những đồ lấy được trong kho quân tiếp vụ cũng ùn ùn nộp E . Chúng tôi bắt đầu làm lấy giường nằm theo gu của lính . Dỡ trần nhà lấy ván ép làm giường để rồi tự mình chịu cái nóng Củ Chi hầm hập … Buồn cười thế, chả cái dại nào giống cái dại nào. Bao lâu nay đói, bây giờ được ăn uống đầy đủ tôi lên cân vù vù . Chỉ sau hai tháng lên được 6 kí. Cái thằng da nhẻm như tôi mà nước da sau 2 tháng cũng ưng ửng lên. Tôi chả mơ ước gì lúc này tôi chỉ nhớ mẹ, nhớ ruộng đồng, nhớ sách học trò và chỉ muốn ra quân. Ước mong được ra quân cháy bỏng ruột gan .
Chuyện trở về Củ Chi không phải là để kể chuyện phá phách trong căn cứ Đồng Dù. Kể chuyện đó biết bao giờ hết cười hết buồn.Tôi muốn kể về con người Củ Chi về những ngày tháng sống với đồng bào Nam bộ, về những suy nghĩ của mình với tuổi trẻ với đất Củ Chi củ miền Nam mới giải phóng .
Lần đầu tiên trong đời tôi nghe tới cụm từ ‘Gia binh“. Tất nhiên là tôi hiểu ngay gia binh là gì. Nơi chúng tôi tiếp quản từng vị trí cấp C, đều là trong gia binh.còn bếp ăn và khu D bộ ở nhà vòm của lính cũ. Đây đó ngổn ngang bát đĩa áo quần nồi niêu, ngổn ngang tủ giường đồ dùng gia đình. 
Đêm 10/5/75 tôi dọn dẹp nơi ở của mình, dọn dẹp thì ít mà ngồi xem sách vở giấy tờ thì nhiều. Trở về đây tôi ngợp trong sách vở mà 4 năm qua thiếu đói. Tôi đọc ngốn ngấu như kẻ ốm dậy ăn giả bữa. Hầu như mỗi ngày tôi đọc một cuốn sách. Lần đầu tiên tôi đọc những cuốn sách giáo khoa miền Nam. Lần đầu tiên tôi được xem những bài viết của học sinh trung học ở chế độ VNCH. Cứ ngồi lặng đi đọc các bài luận của học trò. Cũng vẫn là những bài dậy cho trò lòng yêu nước, hiếu đễ với mẹ cha. Cũng là những bài ca ngợi tổ quốc ta tươi đẹp. Cũng vẫn là những bài máu đỏ da vàng. Ngạc nhiên hơn cả là trong cuốn " Mười Khuôn Mặt Văn Chương " của Tạ Tỵ thì viết hầu hết về các nhà văn miền Bắc. Ngạc nhiên nữa là bài thơ Đồng chí của Chính Hữu cũng có trong chương trình văn khoa. Đêm ấy cứ bâng khuâng, đêm ấy cứ nhìn nét chữ của đứa trò nào đấy con của binh sĩ VNCH trong cuốn tập và nghĩ bây giờ nó đang ở đâu? liệu nó có được đi học lại không?

Nhìn những nồi niêu vung vãi nhìn những bộ áo quần chưa kịp gói ghém chạy loạn mà lũ chúng tôi cứ bần thần. Tôi có cảm giác buồn buồn có lỗi. Lạ thế. Hồi ấy tôi rất kiêng kị dùng một thứ đồ gì trong vô vàn đồ dùng ở khu gia binh. Đêm, nằm trong căn cứ, khuya lắm vẫn nghe tiếng Hon da è è ngoài xa và khi bình minh ưng ửng là tiếng xe bên ngoài hàng rào rộn rã. Gần bốn mươi năm nay cứ khi nào nghĩ tới miền Nam là tôi lại nghe bên tai tiếng xe máy lúc trời sắp sáng bên ngoài căn cứ Đồng Dù Củ Chi .

***
Chúng tôi lao vào ổn định chỗ ở, ổn định tư tưởng được mươi ngày thì có lệnh hành quân di chuyển. Lại tất cả trang bị vũ khí và cơ sở vật chất chuyển đi. Nơi chúng tôi đến là xã Phú Hòa Đông và Nhuận Đức . Thì ra để đề phòng Mỹ sẽ có thể đánh quay trở lại nên các căn cứ cũ đều phải cách li bố trí thế trận của mình. Chúng tôi đóng quân ở bờ sông Sài Gòn cả ở nhà dân và làm lán lợp mái tôn trong rẫy hoặc ngoài đồng. Mới gần một tháng thôi mà nay quay về với cuộc sống cũ lính đã thấy khổ, thấy chán nản thế . Quen với gian khổ thì lâu nhưng quen với an nhàn sung sướng thì nhanh thế.
Bốn năm nay mang tiếng đi chiến đấu ở miền Nam đã bao giờ tôi ở cùng với dân Nam bộ một ngày. Chúng tôi cứ lặn lội trên rừng trên cứ. Bây giờ, tận mắt thấy cuộc sống của họ. Người Củ Chi chịu đựng gian khổ đến phi thường. Cố hình dung cố tưởng tượng cũng không thể hiểu nổi, làm sao mà họ vượt qua được những ngày Mỹ càn quét với đủ quân binh chủng với hàng chục hàng trăm ngàn lính. Suốt một dải Phú Hòa Đông lên Nhuận Đức, Phú Mĩ Hưng, An Nhơn Tây... không thấy một ngôi nhà cho ra cái nhà. Chỉ thấy cỏ hoang lau lách và lục bình hoang tím. Mươi ngày nay bà con đang lục tục kéo về làng cũ . Chúng tôi mắc võng ngoài vườn một gia đình nông dân hai vợ chồng chừng bốn mươi tuổi. Trong căn nhà tuyênh toang lợp lá dừa ấy có một cái giường độc nhất cho người vợ ốm nặng còn người cha và hai đứa con mắc võng vào những cây cột chôn xuống đất. Tôi mắc võng vào hai cây trứng gà nằm nhìn những con ong bu lên những trái cây rơi dập vỡ vàng ươm dưới đất. Nghe tiếng rên của người đàn bà ốm não nề. Sao giống người dân quê mình đến vậy ? Rồi tôi hỏi, trẻ con ở đây không có trạm xá à ? Lũ trẻ không hiểu trạm xá là gì, tôi giải thích mãi chúng à à .. nhà thương. Lấy đâu tiền đi nhà thương hả ông Giải phóng ? Chiều mưa. Tôi vẫn nằm võng ngoài vườn. Nước tom tom trên mái tăng. Ngó mấy con gà gầy sơ sác trú mưa dưới gầm võng buồn ghê. Tôi nhớ nhà muốn bay về ngay miền Bắc. Chợt có tiếng rên rẩm. " Thằng Hai kêu mấy ông vô nhà nằm, nằm ngoải mắc ốm quá." Thì ra người đàn bà ốm đau đang thương chúng tôi ngoài mưa . Mưa cứ ầm ầm, tiếng người đàn bà chìm vào sấm chớp .

Hôm sau, đến giờ nghỉ trưa tôi chạy bộ ngược lên phía đằng bờ sông Sài gòn. Tìm bạn tôi là y tá C24 vốn trước khi đi bộ đội là sinh viên năm 3 y khoa. Tôi bảo Đinh Ngọc Sỹ, mày có thuốc bổ không mày xuống tiêm cho bà chủ nhà tao mũi, nhà ấy không hề có viên thuốc nào. Đinh Ngọc Sỹ cũng gói kim tiêm rồi giữa trưa nắng chạy theo tôi. Tôi cũng không ngờ gia đình nhà chủ tôi lại xúc động đến thế. Sỹ tiêm cho chị ấy ống B12 “nước rau dền”rồi kéo tôi ra. Tao về đây. Nó ngoái đầu vào, chị ơi chị cố ăn cho chóng khỏe, em về. Ra đường nó bảo tôi, bà ấy chả sống được đâu, gan cổ chướng đấy. Rồi nó đi như chạy sợ về muộn đơn vị lại cho là mò vào nhà dân tụt tạt. Cũng hôm ấy tôi thấy người đàn bà bệnh tật ấy ngồi dậy mà nói, cả đời tôi bây giờ tôi mới được chích mũi thuốc, thấy người khỏe liền. Trưa ấy nắng lắm. Tôi nằm võng nghe trái trứng gà chín nũm rơi bình bịch. Mấy đứa trẻ ngồi gốc cây ngó tôi thật lạ. Chiều tối nghe hai vợ chồng nói chuyện với nhau, người vợ bảo hổng biết ông giải phóng chích thuốc chi mà tui thấy khỏe lẹ vậy ông à. Lại nhớ lời thằng Sỹ nói hồi trưa… chả sống được đâu . Thấy buồn quá. Bao nhiêu người dân hi sinh hết cho cách mạng không tính đếm cả thân xác mình đến lúc sắp chết vẫn không hề biết viên thuốc mũi tiêm. Ấy vậy mà bao nhiêu thuốc men gom được đều ủng hộ hết cho quân giải phóng ngoài căn cứ cách mạngCuối tháng 5/1975 các trung đoàn bộ binh chúng tôi lại kéo quân về đóng trong căn cứ Đồng Dù. Tôi rời khỏi cái xóm nghèo xã An Phú Đông mà nhớ mãi những cây trứng gà chín rụm và những con gà xác xơ co ro trú nắng. Những Ngày này cánh cánh mong trở lại căn cứ để có thể mang cuộn phim đi rửa ảnh. Đi dã ngoại thế này mà cứ lo. Cái máy ảnh chiến lợi phẩm như quả mìn trong ba lô, thấp thỏm. Chỉ sợ bất thình lình các ông cấp trên bắt kiểm nghiệm quân trang thì toi. Bụng bảo dạ, sẽ chụp hết tháng 6 thì nộp máy cho trung đoàn. 

Lại bắt đầu ngày thao trường tối hội họp bình xét. Lính thì bận kiểu lính cán bộ bận kiểu cán bộ . Căn cứ Đồng Dù ngoài Sư đoàn tôi còn thêm cả E công Binh 7 cả D xe cơ giới quân đoàn và một E40 pháo binh quân đoàn nữa Trung đoàn cao xạ 593 ,… nhiều đơn vị mà tôi không nhớ. Chỉ thấy đông nghịt người và đêm đêm đèn điện sáng như phố phường. Khu gia binh giờ phá hết những dãy bếp những mảnh vườn chỉ để trụi thùi lụi những ngôi nhà ở đập thông tường nối với nhau dài dằng dặc . Tháng 6/75 đội văn nghệ Sư đoàn được thành lập. Tôi cũng được gọi lên đó tập tành gấp rút trong nửa tháng để rồi đi biểu diễn với bà con trong huyện Củ Chi. Lúc này nhạc cụ lấy được của đoàn quân nhạc trong Đồng Dù nhiều lắm. Riêng tôi còn mượn được một cây ghi ta rất xịn của trường Lê Quí Đôn trong Sài gòn ( đến tận tháng 9/1975 mới đem trả ) Chả có trình độ mà chơi những loại nhạc cụ cao siêu, lính chỉ lấy ghi ta, trống và chũm chọe lùng bùng lèng phèng suốt ngày. Mới giải phóng nên đội Văn nghệ được cưng lắm. Diễn viên toàn lính cũ dưới đơn vị hồi trên Tây nguyên. Qua chiến dịch đã hi sinh mất vài đứa, lại gọi bổ sung dưới đơn vị lên. Bây giờ chuyện đóng con gái quá là dễ dàng vì Cooc xê rất sẵn không như hồi trên Tây nguyên, anh Xô phó chủ nhiệm chính trị dăn tôi : nếu đột kích vào ấp mày nhớ kiếm cái cooc xê về cho đội văn nghệ. Nhớ mãi chuyện đội VN Sư đoàn giao cho thằng Sáng người Đoan Hùng e48 bảo quản Cooc xê trong ba lô mà nó mếu máo. Bây giờ nó đã hi sinh ở tận bên K . Thương thế. 

Một tối chúng tôi đi diễn dưới Tân Qui . Đang lúc hát hợp ca “Bác cùng chúng cháu hành quân” nghe cái bịch trên sàn gỗ sân khấu. Bà con la ré lên, chúng tôi nằm bẹp ngay xuống sàn. Quả lựu đạn không nổ. Lí do thật đơn giản lựu đạn chưa rút chốt. Đêm ấy cuộc diễn vẫn không dừng lại. Tôi và Khuất Hoan vừa đứng hát tay vẫn nắm lấy tay nhau lấm lét. Du kích dàn hàng ngang đứng kín sân khấu, còn các má thì bảo, các con không sợ. Các má có chết cũng bao bọc được cho các con. Tới tiết mục của tôi, tôi hát bài “Mẹ vẫn đào hầm” mà nước mắt cứ đầm đìa . Các má thấy chúng tôi khóc cũng khóc theo. Quanh tôi, cả dưới bãi cỏ kia chỉ thấy toàn cụ già, trẻ nhỏ và du kích. Thanh niên đâu không thấy? Cuộc chiến tranh khủng khiếp đến nỗi sau ngày hòa bình số đàn ông còn lại không nhiều. Chúng tôi đứng hát trên mảnh đất mà chỉ hơn một tháng trước là khu dày đặc những lính CH những bom và pháo với mìn. Xa vài năm trước dày đặc những là lính Mỹ. Những người lính chiến chúng tôi đứng hát trên một vùng du kích nhiều bao nhiêu thì ác ôn của địch cũng nhiều bấy nhiêu. Chúng tôi hát trên vùng đất trắng bạc đất và lá cây khô rang mà giặc Mỹ đã càn quét bằng đủ quân binh chủng có tới vài chục ngàn quân hàng tháng liền, đốt sạch phá sạch. Thế mà người Củ Chi vẫn sống , vẫn chiến đấu vẫn yêu tiếng hát . Người Củ Chi chiến đấu thật kiên cường và sống thật mãnh liệt , sống vô cùng nhân hậu.
Mùa mưa miền Nam lại đến. Những trận mưa gõ trên mái nhà tôn ầm ầm , mưa rất to và nhanh . Ngồi trong nhà nhìn ra sân, bong bóng phập phồng trôi ào ạt rồi ùa xuống những giao thông hào cũ. Trong Đồng Dù đâu cũng thấy vườn hoa cây cảnh thật là đẹp. Có một thứ hoa vàng gọi là hoa “đai vàng” hoa thì vàng và lá xanh mướt . Những vòm hoa giấy rực đỏ đến sáng cả con đường vào từng doanh trại cũ. Mưa chỉ vào buổi chiều tựa hồ đó là trận tắm rửa cho một ngày bụi bặm. Chúng tôi thích những trận mưa như thế, chúng tôi gọi là mưa Miền Nam .

Ở Đồng Dù có nhiều cổng ra vào. Cổng chính đối diện với con lộ đi tắt xuống Tân Phú Trung về hướng Sài gòn. một cổng phía ngoài Phú Hòa Đông và một cổng nhỏ đi ra rừng cao su Tân an Hội bây giờ. Nhưng có hai cổng nữa mà ít ai dám đi qua là hai cửa mở quân ta đánh vào hôm 29/4. Cửa mở của E9 phía ấp Bắc Hà vào ngay trong tháng 6 đã rào lấp lại còn cổng cửa mở e48 thì vẫn để nguyên mà chả ai dám đi qua. Mấy chiếc xe tăng cháy nằm đấy, bao nhiêu là mũ cối quân trang của bộ đội bê bết ướt nhèm ở đấy. Mìn của địch vẫn dày đặc lại thêm vọng gác của E7 công binh ở những lô cốt đầu cầu nên chúng tôi không bao giờ ra ngoài bằng lối đó. Thế mà lính ta vẫn ra ngoài căn cứ được . Bắt đầu là mấy thằng công binh 17, chúng nó dò gỡ mìn theo lối gần nhất ra ấp Bắc Hà. Các hàng rào thép gai dược chống lên một lỗ to bằng cái thúng . Ra vào đều phải ngụy trang để cán bộ không phát hiện ra. Cửa bên trong giáp với đơn vị chúng nó lăn một cái thùng phuy bẩn ép vào lỗ thủng chỉ cần lăn cái thùng ra một tí là chui vào lối ấy bò theo cỏ tranh mà ra ngoài ấp. Lối đi ấy hình tròn đường kính bằng cái thùng phuy, quân ta ra vào bò như một đàn thằn lằn. Bao nhiêu cuộc tình, bao nhiêu sự làm quen và gắn bó cho lính và đồng bào Củ Chi bắt đầu từ đó. Năm 1993 tôi và Nguyễn Công Thành bạn tôi trở lại Củ Chi. Sau một hồi trình bày với anh em vệ binh Sư đoàn 9 ( phải đưa cả thẻ nhà báo của Thành ) mới được họ cho vào. Đến cái chỗ có lối chui ra ngoài bây giờ là một vườn keo rất đẹp Thành bảo tôi, Chỉ có cái lỗ chui như của chuột mà tao cõng được cả một cái lu đựng nước ra tặng bà già người yêu ngoài ấp Bắc Hà. Nó cười xa xăm, nhìn ra chóp nhà thờ Bắc Hà ló trên ngọn keo xanh mướt mát. Hồi ấy vợ nó là một cô bé mới 16 tuổi bán nước mía ngoài đường Tám lối đi Bình Dương. Chúng nó yêu nhau rồi bây giờ thành ông nội bà nội ở Sài gòn. Đồng Dù điểm kết thúc cuối cùng cuộc chiến của tôi nhưng lại là điểm bắt đầu nhiều cuộc hạnh phúc trăm năm của bao người lính bạn tôi. Củ Chi như một ân tình bất ngờ mà thượng đế ban xuống đầu những chú lính 320A ngày ấy.

Trở lại chuyện máy ảnh trong ba lô. Một lần gần đến tối tôi được anh Kiều Thế người Thái nguyên mật báo, tối nay kiểm nghiệm quân trang. Tôi nhét cái máy ảnh vào bụng ra vườn hoa thả vào đấy. Đêm ra lấy về cho vào túi cơm. Nhồi lại vào ba lô. Những ngày ấy tôi hay rủ mấy anh chỉ huy tiểu đoàn ra cửa mở và trận địa pháo chụp ảnh. Tôi chụp cho anh Mùi chính trị viên, anh Tuần tiểu đoàn trưởng. Những tấm ảnh hồi ở Đồng Dù bây giờ sao mà quí hóa. Mỗi lần ngắm lại những tấm ảnh ấy là tuổi trẻ của mình lại ùa về, hiện lên với bao gương mặt từng chia bom sẻ đạn bên nhau, nay người còn người mất.
Những tháng 6, 7 năm 1975 Khi tôi ở đội văn nghệ sư đoàn chúng tôi được ăn ở trong Tổng hành dinh của Lý Tòng Bá . Một điều rất dễ nhận thấy là ở đây rất nhiều hoa Sứ , rất nhiều những tấm bia xây rất đẹp có biểu tượng tia chớp giống y như tia chớp ở các bảng điện trạm điện bây giờ . Lý Tòng Bá có hồi làm sư trưởng sư đoàn 23 trên Cao nguyên . Ông ta có một cô vợ người Tây nguyên . Và vì thế trong tổng hành dinh Bá giành riêng một vùng làm nhà sàn và cây cối Tây nguyên . Hồi ấy những đàn sóc , tắc kè và cả cầy hương cũng nuôi trong khoảnh vườn thật là đẹp ấy .Chúng tôi ngắm nhà Cao nguyên của tướng Bá mà cũng thấy nhớ Tây nguyên thật . Chiều chiều chúng tôi ra ngồi chân cột cờ ba vòng tam cấp rất cao nhìn về phía tây bắc . Ngọn núi Bà Đen phía Tây N inh xanh sám tít xa . Những lúc ấy tôi cứ nghĩ tới ngọn Ba vì ngoài Bắc khi tôi ngồi trên tàu hỏa về quê mỗi kì nghỉ hè . Chúng tôi ngồi đó mơ ngày về , mơ rằng cuộc đời sẽ thật lương thiện và ấm êm . 

Đồng Dù sau hai tháng biết bao nhiêu đổi thay . Quân đi quân về liên tục . Khách viếng thăm cũng nhiều vô kể . Hết đoàn Văn công này Nghệ thuật kia vào biểu diễn cho chúng tôi xem . Bao nhiêu tán dương bao nhiêu là khen tặng ngập tràn hân hoan và địa chỉ trao nhau . Tất cả mọi thứ đó tan nhanh lắm . Chả ai người ta nhớ đến những người lính nhỏ nhoi như mình mãi được . Chả người lính nào mà lại chiếm được phần lớn con tim của những người ngoài cuộc đang rạo rực ban phát xúc động cho lính . Xúc động của lính chỉ người lính có . Dẫu yêu thương người lính đến mấy cũng không thể có xuy nghĩ của lính . Chỉ còn chúng tôi hát cho nhau nghe , diễn lại những trận đánh mình đã qua . Diễn : thực ra chỉ làm nguyên si những gì mình đã làm trong chiến đấu vậy mà ngồi xem với nhau cũng khóc . Khán giả khóc . Diễn viên khóc , lính khóc cán bộ khóc . Thì ra trên đời chả ai nói thay được cho mình chỉ mình nói cho mình thôi , chỉ mình mới biết mình trung thực đến ngần nào thôi với đời mà trước hết là với chính mình .

Đã qua ba tháng sau Giải phóng. Đã có một đợt quân mới nhập ngũ tháng 4/75 bổ sung về đơn vị , đã có một số anh em có văn hóa lớp 10 đi học Sĩ quan ngoài Bắc . Đồng Dù vẫn nhộn nhịp một cuốc sống lấp lánh chiến công . Nhưng tôi biết đã bao nhiêu là nước mắt của đồng đội tôi sau nhiều năm bây giờ mới nhận thư gia đình . Nhiều oái oăm tình cảm bắt đầu xuất hiện trong lính . Mấy anh lính già 67, 68 khóc vì vợ đã phụ mình , nhiều anh khóc vì được tin mẹ cha đã mất . Còn tôi , tôi chả có gì mất , tôi lại đang sống nhàn nhã hơn anh em chỉ viết lách và múa hát . Mỗi lần về lại A trinh sát của mình cứ thấy như mình có lỗi bởi thấy anh em đen cháy lại sau nhiều ngày bám địa bàn ngoài dân , thấy chúng nó thở dài mong ngày ra quân mà vẫn mịt mù . Một tối chúng tôi diễn cho đồng bào Tân An Hội . Đây là thị trấn Củ Chi nên khán giả rất đông , rất nhiều học sinh đại học và trung học xem . Đêm ấy , chúng tôi không thành công . Mấy hôm sau tôi ra thị trấn , họ nhận ra tôi và cũng hôm ấy tôi được mấy thanh niên Thị trấn mời về nhà . Họ chỉ cho tôi xem bộ nhạc cụ trong nhà , nào là ghi ta điện , dàn trống hiện đại . Thấy tôi bần thần, một cậu bảo tôi anh hát đi . Hát gì bây giờ ? chả nhẽ lại Bác cùng chúng cháu hành quân , lại Đêm trường sơn .. . mà hát nhạc vàng thì không dám vả lại cũng không biết nhiều . Thời đi học đại học chúng tôi hay hát những bài hát Nga và châu Âu, thế là hát . Tôi hát trở về Su ri en tô rồi hát Pa lô ma. Từ lúc ấy họ nhìn tôi rất khác. Bộ đội mà cũng biết hát những bài này à? Tôi bảo các bạn chơi bài Sóng sông Đa nuýp đi ! họ tròn mắt . Thì ra bấy lâu nay thanh niên miền Nam cho rằng lính miền bắc đâu có hát được những bài hát châu Âu ấy, thì ra bấy lâu nay tôi cứ tưởng họ cũng chỉ biết hát nhạc vàng rên rỉ mà thôi. Chúng tôi nhìn nhau ngạc nhiên rồi chợt hiểu ra con người hai miền vẫn chỉ là một, chỉ có điều họ và tôi đang sống trong hai hoàn cảnh khác nhau mà thôi . ..

Tôi quen với Thái và Tùng ở ấp Đông Tân An Hội từ ấy . Chúng tôi cứ tìm thời cơ để ra Củ chi bù khú với nhau . Rồi chúng tôi quên mất chuyện tôi là lính còn Thái và Tùng đang là học trò chưa hết tú tài . Hồi ấy chưa biết uống bia ( lade) hay rượu . Thế mà lần nào tụ tập với nhau cũng phê . Tùng mới cỡ 15 tuổi mà đã bảo tôi , chừng nào anh về Bắc em chạy honda theo xe các anh ra Bắc chơi . Tôi cười , coi sự chú này nói là không tưởng . Rồi tôi về Bắc , ngày rời Đồng Dù Thái và Tùng không biết . Tôi có thư cho Tùng năm 76 , 77 và cũng nhận được thư em . Rồi cuối năm 77 không thấy thư từ gì nữa . tháng 3/78 tôi nhận được lá thư có tấm ảnh Tùng là bộ đội đi K rồi biệt đến bây giờ . Đã nhiều lần qua thị trấn Củ Chi toàn ngồi trên xe , toàn là du hí rồi vội vã quay về Sài gòn nhậu nhẹt . Củ Chi thật gần mà thật xa . 

Cuối tháng 10/1975 chúng tôi những người lính là sinh viên đại học được về trường cũ để tiếp tục học tập . Mọi người đều có giấy báo từ ngày 16/10 chỉ tôi là không có . HỎi ra mới biết sư đoàn có ý định giữ lại để làm hạt nhân văn nghệ. Ngay lập tức tôi lên sở chỉ huy gặp chính ủy Bùi HUy Bổng. Ông Bổng biết tôi nên ông ủng hộ nguyện vọng của tôi. Ông Bổng nói với ông Bùi Đình Hòe. Thôi cho em nó ra anh ạ. Sau này tôi mãi mãi nhớ lúc chính ủy Bùi Huy Bổng tháo cái dây lưng Liên Xô tặng tôi. Ông nói , anh chả có cái gì , thôi tặng em làm kỉ niệm Luân nhé. 
Những năm 90 ở thế kỉ trước tình cờ tôi phụ trách Xưởng Cơ Khí của công ty Thứ Liệu HN dưới chùa Sét lại gần nhà chính ủy cũ. Một hôm thiếu tướng Bùi Huy Bổng về hưu dắt xe đạp vào xưởng tìm tôi. Ngồi bên nhau cụ kể bao nhiêu là chuyện thời Tây Nguyên , thời Đồng Dù Củ Chi và chính ủy lại nhắc đến bài hát của tôi. Lúc chính ủy ra về cái xe đạp lêu lanh canh qua những đề xê sắt thép vụn khiến tôi nhớ về một thời chiên chinh trên dưới có nhau đến thế.

Năm 1988 tôi có quay lại cầu Bông 1 lần. Năm 1993 tôi về lại Đồng Dù , rồi sau đó cứ vài năm tôi lại lên An Nhơn Tây và Phú Hòa Đông. 

Mỗi lần trở về Củ Chi là rạo rực nhớ tà áo trắng sân trường . Cái câu nói này với tôi, tôi chỉ thấy ở Củ Chi. Bởi lần đầu tiên vào tháng cuối 9/1975 tôi được dự khai giảng của trường Trung Học Củ Chi. Suốt buổi hôm ấy tôi nhìn các bạn học sinh kém tôi ba bốn tuổi mặc áo dài trắng phơi phới sân trường. Sau này cảnh ấy thật nhiều nhưng không còn xúc động với tôi như lúc còn ở Củ chi nữa. Lúc ấy tôi cứ nghĩ, trong rừng người trong sáng kia cái xấu làm sao len lỏi vào được (!) . Hôm ấy tiếng trống trường khai giảng ở Củ Chi âm âm. Nó âm âm gọi hồn tôi tới bây giờ.

Trở lại Củ Chi mỗi lần là lại ngửi thấy mùi bánh tráng và nhìn khói bếp trong xóm lên hơi . Dẫu đi từ Bắc vô Nam cứ đến Củ Chi lại mua dưa leo để ăn . Lại muốn mang về Bắc lọ bột tôm vàng óng chấm sắn luộc vào đêm mùa đông. Trở lại Củ Chi là lại đứng trên cầu An Hạ nhìn cánh đồng lúa thăm thẳm để bừng lên lửa khói của trận đánh xe tăng trưa 29/4 và cái đồn Cảnh sát đầu cầu vắt oài ượt những xác lính trong trận mưa chiều hôm ấy . Sao mà Củ Chi nhiều hoa lục bình đến thế ? đến bây giờ vẫn nhiều cứ tím cả cánh cào cào làm sôn sao cả nắng hè . Trở lại Củ Chi để đi giữa hoa. Sao mà Củ Chi nhiều hoa giấy thế ? con đường xuyên Á gọi là đường Hoa Giấy đi thôi Củ Chi ơi. Tôi đi trong miên man hoa giấy mà nhớ bạn tôi gục xuống hôm nào. Ngày ấy hoa giấy cũng rực rỡ như hôm nay .
Trở về Củ Chi để thấy mình đã lớn, đã sống tốt với đời. Những người tôi gặp hôm nay chả ai biết đến tôi . Tôi ghé vào cổng Đồng Dù , phía sau cổng gác xanh ngát như ngày xưa , người lính gác nhìn tôi vô cảm như thấy một lão nông thất thường tính nết thấy lạ thì há mồm nhìn ngắm . Tôi chợt nhớ cái khẩu pháo 175 nằm ngay cổng tan hoang ngày 29/4 đã xa . Tôi tin các bạn tôi ngã xuống ở Đồng Dù vẫn nhớ tôi. Dụi mắt nhìn dòng chữ Doanh trại Quân Đội Nhân Dân Việt Nam thấy chập chờn các bạn lính e48 e9 và cả đứa bạn chăn trâu của tôi ở D16 đang cười .

Trở về củ Chi để hi vọng gặp những đứa trẻ đã nghe chúng tôi hát ngày xưa, hi vọng gặp các bạn Thái Tùng ở ấp đông Tân An Hội lại ngồi hát như mùa hè năm 1975 rợp hoa và cờ đỏ. Trở về Củ chi là trở về với đơn vị của mình bởi tất cả đồng đội vẫn đủ biên chế đội hình trên nghĩa trang An Nhơn Tây. Củ Chi ơi ! Tôi trở về Củ Chi là về với tuổi trẻ đời mình

ảnh 1 : trở lại căn cứ Đồng Dù . Tháng 4. 2019
Ảnh 2 : Trở lại cầu Bông ( An Hạ ) 4/2019

17/6/2019 

No comments:

Post a Comment